SƠ LƯỢC VỀ NHÂN TRẮC HỌC TRONG THIẾT KẾ NỘI THẤT

Nhân trắc học là khoa học về đo đạc kích thước của các đoạn cơ thể người. Nhân trắc học phát triển từ khoa học chuyên nghiên cứu về con người: Khoa nhân chủng học. Từ xa xưa nhân trắc học đã được sử dụng để phân biệt các chủng tộc, các nhóm dân tộc, để xác định đặc điểm cá nhân, giới tính. Ngay từ khi hình thành Nhân trắc học đã được phát triển rất mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực thiết kế sản xuất máy móc cũng như trong thiết kế không gian nội thất…
Tình hình nghiên cứu nhân trắc học trong thiết kế không gian nội thất hiện nay
Nhân trắc Ecgonomic được hình thành rất sớm trên thế giới (năm 1473), và được phát triển mạnh mẽ vào những năm Thế Chiến thứ 2. Ở Việt Nam người đặt nền tảng đầu tiên là bác sĩ Bùi Thụ, từ năm 1964. Những hoạt động ban đầu về Nhân trắc Ecgonomic của Bùi Thụ và Lê Gia Khải đã được ghi lại trong một cuốn sách xuất bản năm 1983: “Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động”. Năm 1986 và năm 1991 có cuốn “Dấu hiệu nhân trắc động về tầm hoạt động của tay” của PGS. PTS. Viện trưởng Nguyễn An Lương. Gần đây là cuốn “Ecgonomic trong thiết kế và sản xuất” của tác giả Nguyễn Bạch Ngọc xuất bản năm 2000 (NXB Giáo dục) và cuốn “Giáo trình nhân trắc học Ecgonomic” của Nguyễn Hồng Đức – Nguyễn Hữu Nhân (NXB Đại học Quốc gia).
Theo quy luật sinh học, cứ khoảng 10 năm, do điều kiện sống thay đổi, tầm vóc, thể lực của một số cư dân cũng có những biến đổi. Ở Việt Nam, vì chưa có công trình nghiên cứu về tầm vóc thể lực nào cho người trưởng thành được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu dọc (nhân trắc học trong thiết kế nội thất), nên chúng tôi tạm lấy dữ liệu của người trưởng thành Việt Nam qua kết quả đo chiều cao đứng và cân nặng trong các công trình nghiên cứu nhân trắc được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu ngang mà tiêu biểu gần đây nhất là cuốn “Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” (Dẫn liệu nhân trắc tĩnh và động ) do NXB Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm 2017, với những dữ liệu mới nhất, làm căn cứ khoa học để chúng ta tiến hành xây dựng dữ liệu, cơ sở khoa học về kích thước nhân trắc phục vụ thiết kế công năng không gian và sản phẩm nội thất một cách hiệu quả nhất.
Hình ảnh minh họa (nguồn sưu tầm Internet)
Hình ảnh minh họa (nguồn sưu tầm Internet)
Vai trò của của việc nghiên cứu nhân trắc học 
Đối tượng phục vụ của không gian nội thất và đồ nội thất chính là con người. Việc thiết kế, sản xuất mỗi sản phẩm nội thất đều là để cho con người sử dụng. Do đó nhân tố quan trọng đầu tiên của thiết kế đồ nội thất là phải có tính năng phù hợp với tâm sinh lý của con người. Trong quá trình thiết kế đồ nội thất yêu cầu phải lấy quan điểm khoa học để nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa đồ nội thất với tình cảm, tâm sinh lý của con người, lấy việc nghiên cứu cơ sở và lý giải được tốt nhất những đặc trưng về cơ năng như kích thước, thao tác, tâm lý… của con người để tiến hành thiết kế đồ nội thất có tính hệ thống.
Công năng không gian, công năng đồ nội thất là một trong những nhân tố thiết kế quan trọng nhất. Công năng có tác dụng chủ đạo và quyết định đối với kết cấu và tạo hình của không gian và đồ nội thất, công năng khác nhau thì việc tạo hình của sản phẩm cũng khác nhau, trong điều kiện làm thỏa mãn được nhu cầu rất đa dạng của người dùng. Chúng ta luôn mong muốn những loại đồ nội thất có được sự thích hợp và thuận tiện trong sử dụng, có tính vững chắc, đồng thời thỏa mãn tất cả các yêu cầu về sử dụng, giá thành.
Một số kết quả nghiên cứu trong Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động giai đoạn 2017-2019
Vậy căn cứ vào cơ sở khoa học nào để chúng ta tối ưu hóa những vấn đề trên. Nhân trắc học là một giải pháp hữu hiệu, là kim chỉ nam cho điều đó.
Về cơ sở và phương pháp đo nhân trắc động và tĩnh, yêu cầu về không gian và khu vực vận động của người trưởng thành có cơ thể trung bình, chúng ta có thể lấy một số ví dụ dưới đây.
Một vài số đo nhân trắc: x – số đo xác suất trung bình, SD – độ lệch chuẩn, r – hệ số tương quan dao động.
Thông qua số liệu và quy tắc sử dụng dữ hiệu nhân trắc trong thiết kế và hệ số điều chỉnh chúng ta sẽ có những kích thước ứng dụng trong thiết kế nội thất một cách khoa học. Và tùy thuộc vào môi trường lao động chúng ta có những hệ kích thước áp dụng khác nhau.
Phương pháp nghiên cứu
Đây là đề tài khoa học thuộc loại hình nghiên cứu ứng dụng. Do đó, tác giả dùng phương pháp thu thập tư liệu (phương pháp nghiên cứu lý thuyết) và dựa trên kinh nghiệm thực tế (phương pháp nghiên cứu thực nghiệm) để đưa ra những nguyên lý chung nhất về các giải pháp thiết kế và ứng dụng trong đề tài.
Hình ảnh minh họa (nguồn sưu tầm Internet)
Xác định kích thước hợp lý nhất
Nhân trắc Ecgonomic nội dung chủ yếu là tính toán kích thước đối với cơ thể con người, bao gồm kích thước cơ bản các bộ phận cơ thể, kích thước hoạt động của chân tay… Những kích thước đó sẽ làm căn cứ cho việc thiết kế chính xác đối với đồ nội thất, xác định được kích thước tối ưu nhất với đồ gia dụng, làm thỏa mãn hơn nữa nhu cầu về tính an toàn, đảm bảo sức khỏe , thuận tiện, thoải mái… Đồng thời cũng thuận tiện cho việc sản xuất theo phương thức công nghiệp hóa.
Cung cấp những căn cứ khoa học
 Việc thiết kế tổng thể đối với đồ nội thất cần phải căn cứ vào độ lớn nhỏ của không gian môi trường, số lượng và tính chất hoạt động của con người. Để xác định được kích thước và số lượng đồ nội thất người thiết kế cần phải thông qua kiến thức về Nhân trắc Ecgonomic, phải xem xét một cách tổng hợp về mối quan hệ giữa con người với đồ gia dụng và môi trường, từ đó tiến hành thiết kế một cách có hệ thống, như vậy mới có thể phát huy được tốt nhất hiệu quả sử dụng của đồ gia dụng nội thất.
Từ khóa: Anthropos – Con người, Metrikos – đo đạc , Statical anthropometric data – dẫn liệu nhân trắc tĩnh, Anthropometric data – dẫn liệu nhân trắc động.
(Dữ liệu Ecgonomic trong thiết kế và sản xuất – PTS. Nguyễn Bạch Ngọc – Nhà xuất bản Giáo dục 2000
Phạm Quang Tuyến & Đinh Văn Tưởng
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Bạch Ngọc (2000), Ecgonomic trong thiết kế và sản xuất, NXB Giáo dục
2. Nguyễn Hồng Đức – Nguyễn Hữu Nhân, Giáo trình Nhân trắc học – Ecgonomic, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
3. PGS.TS. Hoàng Thúc Đệ, ThS. Võ Thành Minh, TS. Trần Văn Chứ, họa sĩ Lý Tuấn Trường (biên dịch), Thiết kế đồ gia dụng, Đại học Lâm nghiệp
4. TS. Phạm Thị Bích Ngân, ThS. Nguyễn Thị Hiền, PGS.TS. Nguyễn Đức Hồng và cộng sự, Cơ sở phương pháp xây dựng atlat nhân trắc Ecgonomic tĩnh và động người Việt Nam trong độ tuổi lao động giai đoạn 2017-2020, Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động

Tin cùng chuyên mục

NGHỆ THUẬT ĐA PHƯƠNG TIỆN TRONG THIẾT KẾ NỘI THẤT SHOWROOM BMW WELT

Đầu thế kỷ 21, sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin đã mang lại cho lĩnh vực thiết kế nội thất showroom những biểu hiện nghệ thuật mới. Thông qua khoa học và công nghệ hiện đại,...

Tin cùng chuyên mục

Những dấu ấn quy hoạch, kiến trúc của kiến trúc sư Ernest Hesbrard

Ernest Hébrard (1875 – 1933) sinh ngày 11/9/1875 tại Paris. Ngày 15/10/1891, khi 16 tuổi ông đã bắt đầu theo học tại xưởng vẽ của Trường Đại học Mỹ Thuật Paris (Ecole nationale et spéciale des Beaux Arts de...

Thành phố sáng tạo và nghĩa cử tri ân sự sáng tạo

Hà Nội là thủ đô ngàn năm văn hiến, với danh hiệu Thành phố vì Hòa Bình đang tiến về phía trước với mục tiêu trở thành thành phố sáng tạo hàng đầu trong khu vực. Trải qua nhiều cuộc chiến...

Biến chuyển cảnh quan truyền thống – hiện đại từ phù thế họa (ukiyo-e) đến phim của Ozu Yasujiro

Tranh khắc gỗ (Ukiyo-e, Phù thế hội) là thể loại độc đáo riêng có của hội họa Nhật Bản, thể hiện một cách đầy thi vị và đa diện về cõi phù thế của những thị dân Edo. Ukiyo-e cũng đã...

Đấu xảo hoàn vũ Paris năm 1867 – Hội chợ triển lãm quốc tế đầu tiên có người Việt tham gia

Hoàn cảnh và lý do người Việt có mặt tại Đấu xảo Hoàn vũ ở Paris năm 1867 Sau Hòa ước Nhâm Tuất (05-06-1862), thực dân Pháp được quyền chiếm đóng và quản lý ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Vào...

Đào tạo sáng tác và lý luận, phê bình văn học-nghệ thuật trong đại học đa ngành

Các trường đại học đa ngành cùng tư duy liên ngành được kỳ vọng có thể đóng góp vào cách tiếp cận mới trong đào tạo đội ngũ sáng tác và lý luận, phê bình văn học-nghệ thuật (VHNT). Ðó...

Có thể bạn quan tâm

NHỚ VỀ BỐ MAI VĂN HIẾN

  Nói đến nền hội họa cách mạng Việt Nam không thể không nhắc đến người cha thân yêu của tôi – họa sĩ Mai Văn Hiến. Sự nghiệp của ông đã được nhiều người viết và giới thiệu. Trong...

Bìa Tạp chí Mỹ thuật số 325&326 tháng 1-2/2020

 ...

“Vầng trăng cổ tích” qua nét vẽ của thiếu nhi

TTH.VN – Hơn 30 học sinh tiểu học trên địa bàn TP. Huế vừa được tham gia cuộc thi vẽ tranh với chủ đề “Vầng trăng cổ tích” nhân dịp Tết Trung thu do Bảo tàng Mỹ thuật Huế phối hợp...

TIỂU THỦ CÔNG NGHỆ MỸ NGHỆ XƯA Ở NAM KỲ

  Ngoài một vài kỹ nghệ truyền thống khá quan trọng như kỹ nghệ đồi mồi ở Hà Tiên, kỹ nghệ kim hoàn ở Sa Đéc, có thể nói rằng ở Nam Kỳ xưa chưa có ngành kỹ nghệ mỹ nghệ bản xứ....

Họa sĩ Nguyệt Hồ – người vẽ hồn sông Vị, thành Nam

  Họa sĩ Nguyệt Hồ tên khai sinh là Vũ Tiến Đa, sinh năm 1905 tại thôn Thi Thượng, xã Vị Hoàng (Vị Xuyên), nay là phố Hàng Nâu, thành phố Nam Định. Bút danh Nguyệt Hồ gắn với quê gốc gia tiên...