Nghệ thuật Bùi Trang Chước – Khi sự kỳ khu đã trở thành cái riêng biệt

 

Có một số họa sĩ mà sức nhìn và kỹ năng của họ có thể đạt đến những độ thấu đáo đáng kinh ngạc. Vậy cũng có nghĩa, ta dường như đang nói đến một chủ đề liên quan đến tính chi tiết của hội họa.

Cả người vẽ và người xem thường đứng thành hai phía: một phía thiên về đại thể, một phía thiên về chi tiết. Nhưng chắc chắn không có ai chối bỏ một câu hỏi: “Thế nào là cần và đủ?” – dành cho hội họa.

Một bức tranh mà thiếu chi tiết thì dễ bị thiếu đi sự sinh động, tính tự nhiên, và khó tạo ra được sự vững tin ở người xem. Nhưng, ngược lại, một bức tranh mà thiếu đi đại thể thì người xem thậm chí không hiểu nó muốn nói lên cái gì cả. Bởi vậy, một bức tranh có đẹp, có hay, suy cho cùng – phải có cả hai cái đó.

Một trong những họa sĩ tiêu biểu mà ta có thể dẫn ra cho chủ đề này chính là Bùi Trang Chước.

* * *

Bùi Trang Chước (1915 – 1992), tên thật là Nguyễn Văn Chước, là một họa sĩ đồ họa. Sinh ở huyện Từ Liêm, Hà Nội.

1936-1941, ông học và tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, khóa 11. Là một trong những họa sĩ Việt Nam đầu tiên vẽ mẫu tem thư ngay từ trước 1945. Sau cách mạng, ông tiếp tục vẽ mẫu tem thư và nhiều thể loại đồ họa ứng dụng khác: mẫu giấy bạc, mẫu bằng khen, mẫu huân huy chương và biểu trưng.

Từ hòa bình lập lại (1954), ông chủ yếu công tác tại Vụ phát hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Hội viên sáng lập Hội Mỹ thuật Việt Nam.

Ông cũng đã từng tham gia giảng dạy tại Trường Mỹ thuật Việt Nam ở chiến khu Việt Bắc (1950-1954, là một trong mấy giảng viên đầu tiên của trường, dạy về luật xa gần) và Trường Mỹ thuật Công nghiệp Việt Nam ở Hà Nội (1959-1964).

Tác phẩm chính về đồ họa ứng dụng: biểu trưng Tổng Công đoàn (nay là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) và mẫu Quốc huy Việt Nam được chọn làm cơ sở hoàn thiện. (Và gần đây đã có nhiều tư liệu và chứng cứ mang tính pháp lý để chứng minh Bùi Trang Chước chính thức là tác giả của Quốc huy Việt Nam).

BÙI TRANG CHƯỚC – Chân dung cô Thủy. 1981 Màu nước. Sưu tập Phạm Văn Thông, Hà Nội

 

BÙI TRANG CHƯỚC – Chân dung cô gái Đức 1 28/10/1963. Phấn màu Sưu tập Phạm Văn Thông, Hà Nội

 

BÙI TRANG CHƯỚC – Chân dung cô gái Đức 2 29/8/1963. Màu nước Sưu tập Phạm Văn Thông, Hà Nội

Chuyên chất liệu sơn khắc, ngoài một số tranh phong cảnh như “Chùa Thầy” (1980), ông đi sâu vào phong cảnh “công nghiệp”: “Vịnh Hạ Long” (1960), “Công trường xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên” (1962, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam), “Công trường Thủy điện Thác Bà” (1975), trong đó ông kết hợp cả luật viễn cận châu Âu lẫn phối cảnh ước lệ Á Đông, tìm chất thơ của lao động hiện đại trên nền thiên nhiên bao la còn nhuốm màu hoang dã.

* * *

Ở nước ta, những họa sĩ có biệt tài về đồ họa, đặc biệt về đồ họa khắc, như Bùi Trang Chước, thực ra không phải hiếm. Ngay cả Nguyễn Tư Nghiêm hay Nguyễn Sáng cũng đều là những cây đồ họa xuất sắc. Nguyễn Sáng cũng đã từng là một họa sĩ vẽ tem thư và giấy bạc xuất sắc.

BÙI TRANG CHƯỚC – Múa quạt. 1981 Bột màu. Sưu tập Phạm Văn Thông, Hà Nội

Thế nhưng, nếu kể tên các họa sĩ chuyên sâu vào nghệ thuật đồ họa, dành cả cuộc đời cho đồ họa, đặc biệt cho nghệ thuật tranh sơn khắc – thì ta hầu như không kể được nhiều, ngoài một số tên tuổi quan trọng như Nguyễn Khang (một trong những người mở đầu cho nghệ thuật tranh sơn khắc Việt Nam), Công Văn Trung, Huỳnh Văn Thuận, Thái Hà, Doãn Tuân, Trần Hữu Chất và Bùi Trang Chước (hoặc thêm một số họa sĩ khác nữa như Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Văn Trường, Nguyễn Trọng Hợp, Trần Việt Sơn, Nguyễn Nghĩa Duyện, Vũ Tư Khang)… Và nếu chỉ ưu tiên chọn ra mấy cái tên như vậy – thì ta cũng đã đồng thời chọn ra được ít nhất là mấy phong cách chủ yếu trong nghệ thuật khắc sơn của Việt Nam.

Riêng Nguyễn Tư Nghiêm, cho dù không chuyên vào sơn khắc, nhưng ông đã làm tranh sơn khắc trước cả tranh sơn mài, ngay từ 1943-1944, và đã có một hai đỉnh cao chói lọi về tranh sơn khắc. Nguyễn Tư Nghiêm cũng là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt để chứng minh: một họa sĩ vẽ sơn dầu bậc thầy đồng thời có thể là một họa sĩ vẽ tranh sơn khắc bậc thầy.

* * *

Về mặt lịch sử, chúng ta thường hay nhắc nghệ thuật sơn khắc “Coromandel” có nguồn gốc từ Trung Quốc, với tính chất trang trí cố hữu của nó. Nhưng diễn biến hiện đại của nghệ thuật này ở Trung Quốc, nếu có, thì ta hầu như không được biết đến.

BÙI TRANG CHƯỚC – Tát nước. 1958 Màu nước. Sưu tập Phạm Văn Thông, Hà Nội

 

BÙI TRANG CHƯỚC – Chùa Thầy. 1982 Bột màu. Sưu tập Phạm Văn Thông, Hà Nội

Kể từ 1979, sau “mở cửa” một năm, người Trung Quốc đã có chủ trương “chính thức” lấy nghiên cứu hội họa sơn dầu phương Tây làm cơ sở và động lực cho sự đổi mới nền nghệ thuật của họ. Việc quay về để phát triển bằng nghệ thuật sử dụng “natural lacquer” cả trong hội họa lẫn nghệ thuật trang trí và design, mới đây cũng đã được người Trung Quốc cực kỳ chú trọng (chỉ có thể không chú trọng đối với sự phát triển của nghệ thuật tranh sơn khắc?)

Kỹ thuật làm tranh sơn khắc ở nước ta, về căn bản, không khác gì mấy so với kỹ thuật làm tranh sơn khắc truyền thống của người Trung Quốc. Nhưng chúng ta khác hẳn người Trung Quốc ở ý thức, quan niệm và ngôn ngữ nghệ thuật.

Nói điều đó là bởi vì: Các họa sĩ Việt Nam đã đưa được tranh sơn khắc xích lại gần hội họa, và biến nó trở thành một nghệ thuật “nửa hội họa, nửa đồ họa”, mà tác nhân quan trọng nhất của bước biến đổi này chính là cái tinh thần và sinh khí do chủ nghĩa hiện thực mang đến, đặc biệt trong những năm cuối 1950 và đầu 1960.

* * *

Sự chững lại của nghệ thuật tranh sơn khắc Việt Nam gần đây cho ta thấy, vấn đề không hẳn ở tranh sơn khắc, không hẳn ở tính “thiếu thích nghi” của nó trong bối cảnh đương đại, mà có thể là ở chỗ chúng ta đang thiếu những họa sĩ có đủ tâm thế, có đủ sự yên tĩnh để đi sâu vào một thể loại nghệ thuật vốn giàu tính triết lý Á Đông (và tính thủ công) này.

Bởi vậy, việc nhắc lại và đề cao các họa sĩ như Bùi Trang Chước sẽ càng ngày càng có ý nghĩa.

Nhà sưu tập Phạm Văn Thông (thứ hai từ phải sang) và gia đình họa sĩ Bùi Trang Chước cùng bức tranh của ông.

… Tranh sơn khắc của Bùi Trang Chước mặc dù có số lượng không nhiều, nhưng mỗi bức tranh của ông đều có thể đã đủ để tạo ra một đề tài nghiên cứu. Điều may mắn là mới đây, chúng tôi đã có dịp tiếp cận với một số “tranh mẫu”  của ông, bằng bột màu (và một số màu có thể là màu đặc dụng trong kỹ thuật vẽ giấy bạc), vẽ trên giấy, thuộc sở hữu của ông Phạm Văn Thông ở Hà Nội.

Cái tài và năng lực đặc biệt của người họa sĩ ở đây là chỉ qua các chất liệu “pha nước” và được vẽ bằng bút, ông đã tạo ra được những hiệu quả như của một bức tranh sơn khắc thật sự, với đủ mọi vẻ mạnh mẽ, dứt khoát, rắn rỏi, đanh, sắc, đầy chất thổ mộc, mà tưởng như chỉ có bằng dao và đục người ta mới tạo ra được. Bởi vậy, được xem các tranh mẫu này của Bùi Trang Chước cũng như đang được xem các bức tranh sơn khắc của Bùi Trang Chước vậy.

Ở đây, độ vân vi của muôn vàn chi tiết làm cho người xem thích thú, thậm chí khoái trá trước cái sự “tham” của người vẽ, vì có lẽ, chẳng mấy khi ta được thấy sự vật một cách chi li và được nghe thấy cả tiếng rì rào của chúng.

BÙI TRANG CHƯỚC – Vịnh Hạ Long. 1960. Bột màu. Sưu tập Phạm Văn Thông, Hà Nội

 

BÙI TRANG CHƯỚC – Công trường Thủy điện Thác Bà. 1975. Bột màu. Sưu tập Phạm Văn Thông, Hà Nội

Nếu ở tranh sơn khắc “Thôn Vĩnh Mốc” của Huỳnh Văn Thuận, ta đã được thấy những làn sóng biển, những con thuyền rong gió lộng, và hoạt động của con người trong cảnh êm đềm tưởng như vĩnh cửu của cuộc sống- thì ở tranh sơn khắc “Vịnh Hạ Long” của Bùi Trang Chước, vẫn là những cái ấy, nhưng đã gắn vào một không khí hiện đại, hối hả, bề bộn, tấp nập, với sắt thép, bê-tông, máy móc của thời đại công nghiệp hóa, điện khí hóa. Trong các tranh “Công trường xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên” hay “Công trường Thủy điện Thác Bà”, ngay cả những đám mây trắng bồng bềnh bay trên nền trời cũng không “thoát” khỏi mục tiêu diễn tả của người họa sĩ.

Trong nghệ thuật tranh sơn khắc Việt Nam, sự kết hợp hoàn hảo này có lẽ chỉ thấy ở tranh Bùi Trang Chước là nổi bật nhất.

Khả năng của một họa sĩ, mà cách ngày nay đã trên dưới nửa thế kỷ, có thể tạo ra được những tấm “panorama” có tầm nhìn rộng, vừa tinh xảo về chi tiết, vừa đại thể, với độ phân giải cao (HD), tính đồng bộ – như của một công cụ quang học kỷ nguyên số như vậy, đặc biệt lại bằng chất liệu sơn khắc, quả thực thật hiếm có và khó có.

Bùi Trang Chước sinh ra như để làm đồ họa, làm tranh sơn khắc. Bản tính giản dị, khiêm nhường của ông cũng là một phẩm chất quý giá của nghệ thuật ông. Ông đã có một cách quan sát cuộc sống rất riêng, một cách tâm tình rất riêng với cuộc sống, từ tốn, nhỏ nhẹ mà đằm thắm, đầy đặn, chu đáo. Tìm đến nghệ thuật ông, nghệ thuật tranh sơn khắc của Bùi Trang Chước, tức là tìm đến một tấm lòng, một công phu lao động, một sự sáng tạo không ồn ào, không khoa trương, một con đường đi đầy khó khăn cần vô vàn nỗ lực để trở thành một cá nhân riêng biệt, độc đáo.

Q.V

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tin cùng chuyên mục

Bộ sưu tập Collection Tạp chí Mỹ thuật tháng 9-10 năm 2020

    Mãi đến gần đây, thông qua các cuộc đấu giá nghệ thuật ở nước ngoài, chúng ta dường như mới được biết đến một số bức tranh sơn mài của Trần Hà. Và cũng mới được biết,...

Bộ sưu tập Collection Tạp chí Mỹ thuật tháng 7-8 năm 2020

  Trần Quang Trân có thị hiếu cổ điển, sở thích của ông là vẽ chùa chiền, các công trình kiến trúc cổ, cây cổ thụ, mặt nước… Xem tranh ông người ta thường thấy nắng và những cái bóng...

Bộ sưu tập Collection Tạp chí Mỹ thuật tháng 5-6 năm 2020

  Linh Chi (1921 – 2016) Tác phẩm: Thiếu nữ vùng cao Năm sáng tác: Khoảng 1990 Chất liệu: Lụa Kích thước: 55x37cm Bộ Sưu tập Nghệ thuật Quang San, TP. Hồ Chí Minh     Trần Đông Lương...

Bộ sưu tập Collection Tạp chí Mỹ thuật tháng 3-4 năm 2020

  Nguyễn Gia Trí (1908 – 1993) Tác phẩm: Bố cục Năm sáng tác: Khoảng 1960-1970 Chất liệu: Mực nho, màu nước, phấn màu Thuộc Bộ sưu tập Nghệ thuật Quang Phúc, Hà Nội   Nguyễn Gia Trí bắt...

Bộ sưu tập collection Tạp chí Tết năm 2020

  JOSEPH INGUIMBERTY (1896-1971) Tác phẩm: Hai cô gái bên bờ ao Năm sáng tác: Khoảng 1940-1943 Chất liệu: Sơn dầu Kích thước: 106x81cm Thuộc bộ sưu tập Nghệ thuật Quang San, Tp. Hồ Chí Minh   Joseph...

Tin cùng chuyên mục

Nhà điêu khắc Đinh Gia Thắng: Từ tượng đài đến những phá cách

NDO – Tại triển lãm “Nắng tháng 3” khai mạc ngày 16/4 do Hội Mỹ thuật Thành phố Đà Nẵng sẽ phối hợp với Bảo tàng Mỹ thuật Đà Nẵng tổ chức tại Bảo tàng, nhà điêu khắc, tác giả...

Tác phẩm “Hội cầu mưa” của họa sĩ Nguyễn Thái Cớ thể hiện giao cảm và những nét độc đáo

Tham gia nhiều hoạt động của Hội Văn học Nghệ thuật Hưng Yên, tôi có nhiều cơ duyên gặp họa sĩ trẻ Nguyễn Thái Cớ. Mỗi lần trao đổi về nghệ thuật, tôi đều có ấn tượng về tố chất...

Dòng chảy âm thầm, sâu lắng trong tranh Nguyễn Ngọc Thọ

Cố họa sĩ Ngọc Thọ (1925-2016) thuộc thế hệ thứ ba của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam, sau “Đông Dương” và “Kháng chiến”. Tên tuổi ông gắn với hội họa sơn mài, sơn dầu, mang bản...

Tiếng hót trong đêm

Trong những ngày Hà Nội vào độ cuối thu, Blue Space Gallery kết hợp với Manzi Art Space đã tổ chức một sự kiện văn hóa đặc biệt: triển lãm “Tiếng hót” kỷ niệm 90 năm ngày sinh cố họa sĩ...

Quyện trong thế giới hội họa của Nguyễn Đình Tuyên

NDO – Không khoa trương, không ồn ào, không nổi loạn, Nguyễn Đình Tuyên đến với hội họa bằng một tình cảm chân thành hiếm có. Bút pháp của anh hòa quyện giữa tô và vẽ, giữa vẽ và bôi,...

Có thể bạn quan tâm

Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm tổ chức triển lãm kỷ niệm 70 chiến thắng Điện Biên Phủ

Triển lãm kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2024) do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm tổ chức tại Nhà triển lãm 29 Hàng Bài, Hoàn Kiếm,...

Diện mạo mới của mỹ thuật Việt Nam

NDO – Cuộc thi và triển lãm Mỹ thuật Việt Nam diễn ra từ ngày 6 đến hết 20/12 tại Bảo tàng Hà Nội, đường Phạm Hùng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Đây là dịp để công...

Mỹ thuật đương đại – dòng chảy vẫn còn nhiều khúc vướng mắc và gián đoạn với người tiếp cận

Mỹ thuật đương đại hay nói rộng hơn là nghệ thuật đương đại ở Việt Nam ra đời muộn hơn so với đa số các nước ở phương Tây. Tuy nhiên, với xu thế toàn cầu, hội nhập và phát triển như...

MỘT KỶ NIỆM NHỎ VỀ NGƯỜI BẠN LỚN

Hôm ấy chưa phải đã vào thu, nhưng Hà Nội nắng đẹp và không quá nóng. Đó là cái ngày mà sau này chúng tôi cứ nhớ mãi: 12 tháng 7 năm 1984 – ngày khai mạc triển lãm cá nhân lần đầu tiên của...

Triển lãm “Tôi yêu Sushi”

Thông tin từ ban tổ chức: Vào năm 2013, UNESCO đã ghi danh washoku — Ẩm thực Nhật Bản — vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể, với sushi là ví dụ điển hình. Sushi là một món ăn tinh tế, tốt cho...

LÊ ANH VÂN – MỘT HÀNH TRÌNH HIỆN ĐẠI, CỔ ĐIỂN VÀ TRỮ TÌNH

  Năm 1984, Lê Anh Vân quả thực đã đi trước một bước vào hội họa thời kỳ Đổi mới (một thời kỳ sẽ chỉ chính thức bắt đầu kể từ 1986), bằng một tác phẩm hội họa sơn dầu bố...