Thẩm mỹ truyền thông và tác phẩm nghệ thuật đương đại Việt Nam tại Bảo tàng Guggenheim New York

 

Bảo tàng Guggenheim, New York lần đầu tiên mua một tác phẩm nghệ thuật đương đại của nghệ sĩ Việt Nam. Nhận thức thẩm mỹ trong thời kỳ hậu công nghiệp đã thay đổi. Các nhà nghiên cứu Việt nam đã xác định một thời kỳ thẩm mỹ thứ ba sau thẩm mỹ cổ điển và thẩm mỹ hiện đại. Khái niệm thẩm mỹ truyền thông được phát kiến bởi Mario Costa và Fred Forest năm 1983 tại Ý. Các nghệ sĩ đương đại Việt Nam đã thực hành các thể loại Trình diễn, Sắp đặt, Video art và một số loại hình đương đại theo quan điểm thẩm mỹ mới. Thẩm mỹ truyền thông đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng thẩm mỹ trong bối cảnh đương đại. 

Năm 2013 là một năm đáng nhớ của giới nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bảo tàng Salomon R. Guggenheim tại New York, một bảo tàng nghệ thuật danh giá vào bậc nhất không chỉ ở Mỹ mà còn trên thế giới, lần đầu tiên mua tác phẩm nghệ thuật đương đại của một nghệ sĩ Việt Nam và trưng bày trong bộ sưu tập của mình. Tác phẩm có cái tên “Lập lòe” được ghi nguyên bản tiếng Việt không sai một ký tự nào trên bảng thông tin tác phẩm, một sự trân trọng đáng có đối với một sản phẩm văn hóa nghệ thuật của một dân tộc, một đại diện của văn hóa khu vực. Điều đáng nói đây là một tác phẩm video-art, một thể loại thuộc nghệ thuật đương đại còn khá mới mẻ tại Việt Nam và vẫn còn để lại không ít hoài nghi về giá nghệ thuật thực sự của nó. Xuất phát ban đầu của tác phẩm này là một tác phẩm nghệ thuật trình diễn có tên “Khăn đỏ” hay “Những vết lằn”. Mặc dù cả nghệ thuật video (video-art) và nghệ thuật trình diễn (performance) đã chính thức xuất hiện ở những triển lãm nghệ thuật do các cơ quan nhà nước tổ chức, nhưng sự đồng cảm và am hiểu về các loại hình nghệ thuật này thực sự chưa đủ rộng ngay chính trong giới nghệ sĩ tạo hình.

Vấn đề đặt ra là đã có một sự thay đổi về mặt nhận thức thẩm mỹ trong bối cảnh đương đại. Nhìn nhận về vấn đề này, nhà nghiên cứu và phê bình nghệ thuật Bùi Như Hương đã đưa ra quan điểm của mình trong cuốn Nghiên cứu Mỹ thuật, Viện Mỹ thuật – Trường đại học Mỹ thuật Việt nam.

FRED FOREST – Nghệ sĩ thực hành Nghệ thuật Đa phương tiện

 

“Vết lằn” của Trần Lương tại Singapore Art Museum (ảnh chụp: Jean-Louis Morisot)

 

“Vết lằn” của Trần Lương tại Hàng Châu (Trung Quốc) tháng 10/2007

 

Trích đoạn “Lập lòe” của Trần Lương

Thế giới trải qua ba thời kỳ thẩm mỹ, thẩm mỹ cổ điển truyền thống, thẩm mỹ hiện đại, thẩm mỹ hậu hiện đại. Ở Việt Nam thời kỳ thứ ba gọi là thời kỳ thẩm mỹ mở cửa, hay thẩm mỹ tạp kỹ. Bắt đầu từ đây, người ta cho rằng lịch sử mỹ thuật đã chuyển dần sang thời kỷ thẩm mỹ thứ ba, không còn tương ứng với thời đại công nghiệp nữa, mà là thời đại hậu công nghiệp, với mỹ cảm hoàn toàn mới, không xác định, có tính chất đảo lộn các nấc thang giá trị trước đây [3, tr. 57]. Thẩm mỹ này thể hiện rõ ràng nhất ở các tác phẩm pop-art, pop-xã hội, nghệ thuật quan niệm, sắp đặt, trình diễn, video-art và các loại nghệ thuật tổng hợp khác nhau như ngày nay.

Theo nhận định của Bùi Như Hương, thẩm mỹ thời kỳ thứ ba ở Việt Nam có những đặc điểm sau. (1) Đa dạng, không đồng nhất, tính chủ quan và tự do thẩm mỹ là tuyệt đối. (2) Không lấy cái đẹp làm tiêu chuẩn cao nhất, mà lấy ý tưởng sáng tạo làm chính. (3) Không hướng đến giá trị lâu bền, cuối cùng của tác phẩm, mà quan trọng hơn là quá trình thể hiện, gây hiệu quả và cảm giác tức thời. (4) Tìm kiếm các phương tiện và chất liệu biểu hiện mới, đa dạng, rẻ tiền, sẵn có trong môi trường để phản ánh các vấn đề đương đại, bức bách, báo động của xã hội đương đại. (5) Đôi khi có tính giải trí, hài hước, ngẫu hứng, song qua đó cài đặt quan niệm và thông điệp cá nhân gửi tới người xem. (6) Xu hướng trí tuệ hóa nghệ thuật bằng cách áp dụng khoa học kỹ thuật như camera, video, đèn chiếu, màn hình, âm thanh, ánh sáng, chuyển động…, mô hình hóa các tác phẩm trong không gian và thời gian. (7) Xu hướng tổng hợp các loại hình nghệ thuật như sân khấu, múa, âm nhạc, tạo hình vào cùng một sân chơi. Mở rộng không gian nghệ thuật ra ngoài trời, lôi kéo người xem cùng tham gia vào hoạt động sáng tạo. (8) Xu hướng đại chúng hóa và xã hội hóa nghệ thuật.

Trong khi đó ở phương Tây, các nghệ sĩ thực hành nghệ thuật đương đại và các nhà nghiên cứu đã có được tiếng nói chung thông qua các hoạt động cộng đồng và cùng nhau xác lập một thẩm mỹ mới mang tính đột phá khẳng định cơ sở lý luận cho bước phát triển mới của nghệ thuật hậu hiện đại mang tên Thẩm mỹ truyền thông (Communication aesthetics).

Thẩm mỹ truyền thông được phát kiến vào tháng 10 năm 1983 tại Mercato San Severino nước Ý bởi Mario Costa (Giáo sư mỹ học Đại học tổng hợp Salerno, Cộng hòa Ý) và Fred Forest (Nghệ sỹ thực hành nghệ thuật đa phương tiện, Giáo sư nhiều trường đại học Pháp). Đây là một lý thuyết thẩm mỹ đề cập đến thực hành nghệ thuật hoạt động thông qua sự phát triển mang tính cách mạng và các mô thức của công nghệ truyền thông cuối thế kỷ thứ 20. Nhận thức những vấn đề đang bùng nổ thông qua các thể loại tạo nên một bức tranh toàn cảnh, hay còn được gọi như là một cách tiếp cận nghệ thuật, và tập trung nghiên cứu những chuyển biến trong cuộc chạy đua xã hội công nghệ.

Trong sự kiện lấy tên là Artmedia, dành cho Video Art do Mario Costa tổ chức dưới sự bảo trợ của đài Truyền hình Quốc gia Ý (RAI), Fred Forest đã được mời đến để thực hiện các tác phẩm trình diễn và sắp đặt. Sau các cuộc tiếp xúc, hai người đã phát hiện mối quan tâm chung và sự đồng cảm trong tiến trình gia tăng vị thế của nghệ thuật đương đại trong xã hội cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin liên lạc. Tại cuộc thảo luận căng thẳng trong buổi tối tiếp đó, họ đã dự thảo và ký một bản tuyên ngôn với sự làm chứng của nghệ sĩ người Argentina Horacio Zabala. Bắt đầu từ ngày hôm sau, họ lập một danh sách các nghệ sĩ thực hành trong trào lưu nghệ thuật mới mà họ vừa định danh. Bao gồm Roy Ascott, Antoni Muntadas, Stephan Barron, Marc Denjean, Natan Karczmar, Jean-Claude Anglade, Mit Mitropoulos, Christian Sevette, Robert X Adrian, Jean-Marc Philippe, Wolfgang Ziemer Chrobatzek, Tom Klinkowstein, Eric Gidney, Ugo la Petria, Horacio Zabala, Daniel Dewaele và Piotr Kowalski, tất cả đã nhất trí liên kết với nhau tạo nên một nhóm quốc tế không chính thức. Derrick de Kerckhove, giám đốc chương trình Marshall McLuhan thuộc khoa Văn hóa và Công nghệ tại Đại học tổng hợp Toronto, đã thảo luận trực tiếp với Fred Forest và Mario Costa để thành lập một nhóm nghệ sĩ Canada mang tên “nghệ thuật chiến lược” (Strategic Arts) để hưởng ứng đồng tình đối với các quan điểm và mục tiêu mới. Trong nhóm này có Norman White, một nghệ sỹ tiên phong trong nghệ thuật công nghệ điện tử và người máy cũng tham gia.

“Lập lòe” của Trần Lương tại Viện Goethe, Hà Nội, 2013

 

“Lập lòe” của Trần Lương tại Guggenheim-Museum tại CCA tháng 3/2014

 

“Lập lòe” của Trần Lương tại Melbourne Art Center 2017

Cùng với phát kiến của Mario Costa và Fred Forest, xuất hiện một trào lưu quốc tế về thẩm mỹ truyền thông diễn ra trong các bối cảnh khác nhau tại Paris như “Điện tử Frank Popper” tháng 12 năm 1983, “Trao đổi và nhận định Blaise Gautier” tại Trung tâm Pompidou tháng 5 năm 1984, Hội thảo về triết học của nghệ thuật do Olivier Revault D’Allonnes chủ trì tại đại học Sorbonne. Từ năm 1985 cho đến nay, hội nghị quốc tế về Mỹ học Truyền thông và Đa phương tiện mang tên Artmedia được xác lập chính thức và điều hành tại Đại học Salerno.

Thẩm mỹ truyền thông vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng, nhưng vì lý do địa lý mà hiện nay chia làm ba trung tâm của thế giới có chung quan điểm, nguyên tắc và hành động. Mario Costa giữ vững và đẩy mạnh hoạt động tại đại học Salerno, Naples, nước Ý. Trong khi Fred Forest hoạt động tại Pháp, giáo sư giảng dạy tại đại học Nice Sophia Antipolis và hiện nay là đại học nghệ thuật quốc gia Cergy rồi đại học Sorbonne Paris 1. Còn Derrick de Kerckhove nắm giữ các mối liên hệ tại Bắc Mỹ, giám đốc chương trình Marshall McLuhan tại đại học Toronto, Canada. [4]

Mario Costa được biết đến với các nghiên cứu của mình về mối liên hệ của công nghệ mới trong nghệ thuật và thẩm mỹ, bên cạnh quan điểm lý thuyết mới “thẩm mỹ truyền thông” (communication aesthetics), ông còn đưa ra một số khái niệm mới cũng trong mối liên hệ đó như “cái cao cả mang tính công nghệ” (technological sublime), “hình thái truyền thông” (communication block), và “thẩm mỹ thông lượng (hay sự tuôn trào)” (aesthetics of flux). [5]

Mario Costa có một sự nghiệp nghiên cứu sâu rộng. Ngoài giảng dạy phương pháp luận và lịch sử của phê bình văn học tại đại học Naples, ông còn dạy đạo đức học và mỹ học truyền thông tại đại học Nice Sophia-Antipolis nước Pháp. Ông là tác giả của khoảng hai mươi cuốn sách và nhiều bài tiểu luận, xuất bản ở châu Âu và Mỹ. Ông thành lập phòng thể nghiệm về thẩm mỹ truyền thông và nghệ thuật đa phương tiện mang tên Artmedia tại khoa triết học, đại học Salerno, năm 1985. Là giám đốc của Artmedia ông đã phát triển mạnh mẽ các hoạt động thúc đẩy nghệ thuật có sự tham gia của công nghệ mới, xúc tiến nhiều cuộc hội thảo và các sự kiện ở Naples, Paris, Cologne, Toronto, Tel Aviv và São Paulo.

Từ những năm 1960, ông đã cung cấp những giải thích triết học và thẩm mỹ về nhiều phong trào tiên phong trong nghệ thuật và văn học. Đặc biệt các chức năng của phê bình nghệ thuật hiện đại. Ông chủ yếu làm việc với hai chủ đề chính. Một là các mối liên hệ xã hội và đạo đức trong truyền thông công nghệ. Hai là những thay đổi về ý nghĩa của khái niệm “thẩm mỹ” và “nghệ thuật” trước ảnh hưởng bởi công nghệ điện-điện tử và công nghệ kỹ thuật số, điều này dẫn ông đến giả thuyết thay đổi căn bản trong những lý thuyết này [6].

Vào đầu năm 1980, Costa bắt đầu một cuộc điều tra trên phương tiện truyền thông và công nghệ thông tin liên lạc mà kết quả đầu tiên là tính thẩm mỹ của truyền thông, một lý thuyết đã khái niệm hóa khả năng của một thẩm mỹ mới xuất hiện đồng thời các nơi trên thế giới. Các nguyên tắc cơ bản của lý thuyết này đã được tuyên bố vào năm 1985. Trong những năm 1990, Costa xác định một cách khái quát, dễ hiểu, thẩm mỹ và triết học hơn, lý thuyết của truyền thông đa phương tiện, mà ông đặt tên là “cái cao cả mang tính công nghệ”.

Theo Costa, toàn bộ hệ thống lý thuyết phát triển từ thẩm mỹ truyền thống có từ thế kỷ thứ 18, thực tế đã trở nên hoàn toàn lỗi thời và không lý giải được những biểu hiện của nghệ thuật đương đại. Điều kiện nhân học công nghệ đang nổi lên và các sản phẩm thẩm mỹ quan trọng nhất của nó cần một lý thuyết và lời giải thích mới. Ví dụ một yếu tố cơ bản của mỹ học truyền thống là “hình khối”, cuối cùng được thay thế bằng một thể loại “thông lượng”, trong đó các phân tích được xem xét kỹ lưỡng từ quan điểm triết học và những biểu hiện thẩm mỹ đa dạng của nó. [6]

Fred Forest là một nghệ sĩ truyền thông đa phương tiện người Pháp. Ông sử dụng video, nhiếp ảnh, báo chí in, thư tín, phát thanh, truyền hình, điện thoại, viễn thông, internet, và sự can dự của công chúng trong một loạt các tác phẩm sắp đặt, trình diễn của mình. Đối với hầu hết các tác phẩm nghệ thuật, ông thường vận dụng các phương tiện truyền thông đại chúng và quảng cáo như những nguyên liệu thô. Bên cạnh đó Fred Forest nổi tiếng ở Pháp như là một nhà phê bình gay gắt của các vấn đề của nghệ thuật đương đại. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về nghệ thuật, truyền thông và công nghệ. Fred Forest đã giảng dạy tại trường Cao đẳng Quốc gia Nghệ thuật (Ecole Nationale Supérieure d’Art), Đại học Cergy-Pontoise; Đại học Paris 1 Panthéon-Sorbonne; và Đại học Nice Sophia-Antipolis.

Bản thân Fred Forest là tác giả của tác phẩm “Đối với thẩm mỹ truyền thông” (For an Aesthetics of Communication), xuất bản năm 1985, được coi là bản tuyên ngôn của Thẩm mỹ truyền thông. Văn bản quan trọng này cho thấy tầm nhìn của ông về các tác phẩm nghệ thuật truyền thông, mà mục tiêu của nó không phải là để truyền tải bất kỳ thông điệp hoặc hình ảnh cụ thể nào, nhưng để tạo ra các môi trường thể nghiệm vi mô của truyền thông trong đó có thể phát hiện một số mảng nổi bật, các đặc điểm tiềm ẩn của phương tiện truyền thông đa phương tiện. [7]

Trong một bài báo được xuất bản đầu tiên bằng tiếng Pháp vào năm 1985 Fred Forest trình bày những nội dung cơ bản của Thẩm mỹ truyền thông. “Điện, điện tử và công nghệ máy tính hiện nay đã đưa chúng ta tiến vững chắc vào xã hội truyền thông. Công nghệ này là trung tâm của sự thay đổi đã tái cấu trúc xã hội con người trong hơn một thế kỷ, sự chuyển đổi không chỉ trong môi trường cụ thể mà còn trong cả hệ thống tư duy của chúng ta. Điện, điện tử và máy tính ngày nay cung cấp cho các nghệ sĩ các công cụ mới của sự sáng tạo. Ngày càng nhiều, mọi thứ xung quanh chúng ta đang được chuyển đổi theo hướng này, cùng với sự điều chỉnh gia tăng không ngừng trước một thực tế luôn thay đổi, không còn nghi ngờ nữa đây chính là điều quan trọng nhất hiện nay. Vì lý do này, chúng ta nhất thiết phải xem xét lại nhận thức của chúng ta để nắm bắt thế giới mà chúng ta đang sống. ” [4]

Về cơ bản, Thẩm mỹ truyền thông cho rằng một sự song hành của công nghệ truyền thông và tiến trình phát triển nghệ thuật sẽ công chúng hóa và do vậy làm rõ các ý nghĩa của các sản phẩm nghệ thuật đương đại, thay thế mục đích của nghệ thuật là tạo ra những sản phẩm nghệ thuật cụ thể bằng sự tương tác xã hội: “các nghệ sĩ ngày nay can thiệp trực tiếp trên thực tế, điều đó cho thấy việc đưa ra các hành động mang tính biểu tượng và thẩm mỹ của nghệ sĩ mang đến nhiều ý nghĩa khác nhau từ những cái mà nghệ sỹ đã thể hiện cho đến nay.” Nhưng thẩm mỹ truyền thông đẩy điều này đi xa hơn, bằng cách kêu gọi sự tham dự tương tác trên thực tế, nó sáng tạo cùng với khán giả tạo nên góc nhìn hai chiều.

Cuộc chơi này là tạo ra một hình thức của một nghệ thuật đầy hào hứng vì nó làm mờ đi vấn đề định danh và hạn chế của những hình thức trước đây. Các mảng ghép của thẩm mỹ học truyền thông được nhìn nhận cởi mở bởi những người sáng lập, thực sự họ đang tuyên bố: giờ đây các nghệ sĩ sẽ trở thành một “thực hành xã hội”, trở thành một người trình diễn mang tính xã hội. Việc giảm vai trò cá nhân và kêu gọi sức mạnh, và sự cộng hưởng như là một mô thức của cuộc chơi nghệ thuật. Các nghệ sĩ có trách nhiệm coi sức mạnh này như của chính mình, và phải đương đầu với thế giới xung quanh cùng với nó”.[4]

Việc xác định vị trí chính trị-xã hội còn đi xa hơn nữa, khi các nghệ sĩ kêu gọi sự nhìn nhận đối với bản chất sáng tạo cũng như phi sáng tạo của công nghệ, và đặc biệt là công nghệ thông tin: “Phải thừa nhận từ nay trở đi rằng lịch sử và sự khởi đầu của sự hình dung trí tưởng tượng là hiển nhiên trong  công nghệ vượt lên trên những cái mà nhận thức của chúng ta hay phụ thuộc, và do đó ngày nay in đậm trong công nghệ truyền thông” đó là những phân tích về các khía cạnh hình thức và chức năng của truyền thông mà Thẩm mỹ truyền thông đề cập.

Thẩm mỹ truyền thông thúc đẩy những hàm ý tâm sinh lý của những sáng tạo công nghệ đi lên, xây dựng sự biến đổi đồng thời của chúng trong quan niệm của chúng ta về không gian và thời gian. Cũng như phương tiện giao thông đã thay đổi cách tiếp cận và trải nghiệm về nhà ở và khái niệm địa phương của chúng ta, Thẩm mỹ truyền thông chỉ ra những sáng tạo CNTT sẽ thay đổi cách tiếp cận của chúng ta về sự tương tác của con người. “Sự kết nối các máy tính với nhau và với các thiết bị khác là bước tiên phong của việc mở ra các mạng lưới viễn thông và loại bỏ những hạn chế nhất định về khoảng cách.” Và tất nhiên nó giúp các nghệ sĩ nhận biết và khai thác những điều này để thực hành sáng tạo cùng với những phát triển của truyền thông: “Chúng ta cần lưu ý rằng tất cả những chuyển đổi mang lại bởi hệ thống phương tiện truyền thông đã tổ chức lại toàn bộ hệ thống của biểu hiện thẩm mỹ mà ta không biết”.

Cuối cùng, Thẩm mỹ truyền thông làm việc với một khía cạnh hóc búa khác của sự cải tiến công nghệ, nhận thức và cảm thụ trở nên khó đoán bắt từ sự trỗi dậy của những vấn đề thực tế ảo. Rất có thể, sẽ khuyến khích sự lệch lạc trong cảm nhận xã hội, Thẩm mỹ truyền thông tìm cách đóng khung những vấn đề đang nổi lên chứ không phải né tránh chúng. Một lần nữa, Thẩm mỹ truyền thông tìm cách nhận định các mối liên hệ xã hội và sự ảnh hưởng bởi sự kết hợp giữa cách mạng truyền thông và đổi mới nghệ thuật trên cả cấp độ nguyên tắc và chức năng.

MARIO COSTA – Giáo sư mỹ học Đại học Salerno

“Mục tiêu của các nghệ sĩ truyền thông chắc chắn không phải để đưa ra những ý nghĩa mức độ sơ khai, nhưng trên hết là làm cho chúng ta nhận thức được như thế nào, cuối cùng việc thực hành tổng quát truyền thông tác động tới hệ thống giác quan của chúng ta. Cuộc cách mạng này nhằm xác định các vấn đề cho một “nhận thức mới” với những lý giải  cao nhất, và sau cùng với cách cảm nhận mới sẽ mở ra lối đi cho một thẩm mỹ mới.” [4]

Cùng với luận điểm của các nhà nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế, các nghệ sĩ thực hành nghệ thuật đương đại Việt nam đã làm việc cật lực với bản lĩnh đáng trân trọng cho dù trong tâm thế của người đến sau trong dòng chảy của nghệ thuật thế giới. Là một trong những nghệ sĩ đương đại tiên phong ở Việt Nam, tác giả của tác phẩm “Lập lòe” khẳng định nghệ thuật đương đại Việt Nam không hề khó hiểu hay dễ dãi, cũng chẳng hề thần thánh hay giỏi giang như một số người nhận xét, đơn giản nó cũng chỉ là một khoa học. Anh cho biết các quan niệm nghệ thuật đều phải dựa trên một cái nôi văn hóa, một trình độ tri thức cao và kinh nghiệm thực thành dầy dạn. Khi xã hội vận động đặt ra những nhu cầu mới, có sự vận hành của tư duy, có sự va đập của cuộc sống thì ắt phải ra đời những cái mới. Nghệ thuật không có gì là ngẫu nhiên, nó luôn là kết quả của tri thức mang yếu tố nhân văn. Vấn đề là tốc độ sống, từ tốc độ đi ngựa cho đến tốc độ của máy móc cơ khí, từ xã hội thủ công cho đến xã hội công nghệ, môi trường của con người ngày nay đã trở nên tinh vi, rộng lớn hơn. Các cấu trúc xã hội đã thay đổi, mô thức công việc cũng thay đổi, con người đã vượt ra ngoài không gian gian sống của chính mình. Nhưng khi tốc độ sống đã trở nên quá nhanh, câu hỏi đặt ra là những cảm xúc hạnh phúc thực sự của con người là ở đâu và người làm nghệ thuật sẽ phải trả lời câu hỏi đó. Văn hóa và nghệ thuật luôn có nhiệm vụ đi trước bằng cảm thức hay liên tưởng của nghệ sĩ.

Nghệ thuật hiện đại cũng giống như nghệ thuật cổ điển, không thể giao tiếp với quảng đại quần chúng, không thể đến với người thu nhập thấp trong xã hội. Sở hữu và thưởng thức nghệ thuật vẫn luôn là những người giầu có, người nghèo không có cách gì để đến với nghệ thuật. Sự khác biệt trong tốc độ sống luôn là nỗi trăn trở của nghệ sĩ đương đại và nghệ thuật đương đại đã phản ứng bằng một quan niệm thẩm mỹ mới. Thẩm mỹ của đại chúng, của nền cơ bản của xã hội (ground level) với khẩu hiệu phá bỏ bức tường của bảo tàng, bức tường của nhà hát để ra với quảng đại quần chúng. Nghệ thuật đương đại luôn đồng hành cùng chính trị xã hội, đặc biệt đề cao tính dân chủ. Nghệ thuật phải tương tác trực tiếp với tất cả các giai tầng của xã hội, phải đến với công chúng chứ không phải công chúng tìm đến thánh đường của nghệ thuật. Người nghệ sĩ phải sống với quần chúng chứ không phải trong các tháp ngà, họ phải tạo ra một thứ nghệ thuật dân chủ hơn.

Nghệ thuật trình diễn, nghệ thuật sắp đặt hay graffiti đã thực hành với đúng tôn chỉ mục đích của nghệ thuật đương đại, một nghệ thuật chú trọng tới quá trình chứ không phải bản thân tác phẩm. Đây là lý do mà tác giả “Lập lòe” bắt đầu chuyển sang thực hành nghệ thuật ngoài giá vẽ. Dù cho từ những năm 1992 anh đã có tác phẩm tại các bảo tàng nghệ thuật Singapore và Nhật bản, nhưng anh đã luôn phải đối thoại với chính mình về vấn đề lý thuyết nghệ thuật. Xã hội có công nghệ mới, vật chất mới thì tại sao nghệ thuật lại không dùng nó. Đặc biệt năm 1986, Giám đốc của bảo tàng nghệ thuật Singapore đã có một bài viết trên tạp chí nghệ thuật uy tín của khu vực Asia Art New phê phán nghệ thuật Việt Nam tuy mới bùng nổ đã đi vào trạng thái mất cảm xúc, các họa sĩ thành đạt tự tái chế tự nhại tranh của chính mình. Các họa sĩ đã trở nên ích kỷ thiếu trách nhiệm với cộng đồng và dần tự hủy hoại mục đích thật sự của nghệ thuật. Nhưng hạ tầng cơ sở cho hoạt động nghệ thuật là ở đâu, trong khi chúng ta thiếu lịch sử triết học, thiếu lịch sử mỹ thuật cập nhật, không có nhà giám tuyển và cũng không có cả những luật sư bảo vệ quyền lợi họa sĩ nữa. Năm 1997 thị trường nghệ thuật tại Việt Nam sụp đổ, cũng là năm ngưỡng bản lề cho một sự thay đổi lớn. Tác giả “Lập lòe” đã ngừng mạch hội họa để đi vào cấu trúc, đi vào nghệ thuật sắp đặt và nghệ thuật trình diễn bắt đầu từ trung tâm nghệ thuật Nhà sàn.

     

       Nhóm ảnh tác phẩm “Người cơm” của Trần Lương. 2011. Ảnh kỹ thuật số cùng video đa chiều, độ dài video 5:05 phút

Tác phẩm “Người cơm” được trình diễn ở mỏ than Mạo Khê năm 2001 không chỉ là một thành công mà còn cho thấy con đường phát triển nghệ thuật của anh luôn song hành cùng những quan điểm rõ ràng về nhận thức. Anh luôn ưu tiên những vật liệu của quần chúng, của địa phương. Bản thân vật liệu đã mang trong nó ký ức của cả cộng đồng, là những gì thân quen gần gũi trong cảm thức của người Việt và của cả những người dân khu vực ăn lúa gạo. Tiếp theo là tác phẩm “Đánh răng” được trình diễn tại quảng trường Thiên An Môn năm 2007 là cuộc chơi đầy ngụ ý trong một bối cảnh khó khăn nhưng không kém thú vị. Nhưng phải đến tác phẩm “Khăn đỏ” trình diễn tại studio 798, một trung tâm nghệ thuật lớn nhất Bắc Kinh, nằm trong khuôn khổ hoạt động của Dadao Live Art Festival, mới mở ra cánh cửa tới tác phẩm nghệ thuật đương đại Việt Nam tại bảo tàng Guggenheim sau này. Ý tưởng của tác phẩm này xuất phát từ chính gia đình. Một ngày hình ảnh cậu con trai 10 tuổi của tác giả trong ngày được kết nạp vào Đội thiếu niên tiền phong trở về với chiếc khăn quàng đỏ trên vai đã dội lại toàn bộ ký ức của tuổi thơ của anh. Cũng như đôi dép cao su, chiếc mũ cối, chiếc bếp dầu, chiếc khăn quàng đỏ với anh như là những chứng vật của cuộc đời hay một giai đoạn của lịch sử Việt nam. Chiếc khăn đỏ trong tay các bé học sinh vừa là biểu tượng, vừa là công cụ và đặc biệt còn là “vũ khí chiến đấu” của tuổi thơ. Các khán giả tại studio 798 đã xếp hàng vào sử dụng chiếc khăn đỏ đánh vào người nghệ sĩ và sự tương tác đã để lại những ấn tượng khó quên cho tất cả mọi người. Tác phẩm này được lưu diễn tại gần 20 thành phố trên thế giới với những thành công bất ngờ.

Bước phát triển tiếp theo của cùng một hình tượng chiếc khăn đỏ được mang tên “Những vết lằn” mang nhiều ý tưởng bản thể của nhân loại nhiều hơn là những ký ức tuổi thơ. Cuộc trình diễn được ghi hình và sau đó được chính tác giả biên tập thành một video dài 2’10” đã được bảo tàng Singapore mua năm 2013 và trình chiếu tại lễ kỷ niệm 20 năm nghệ thuật Đông Nam Á tại Úc cùng năm đó. Thực tế thì tác giả đã không mấy hài lòng với kết quả này và thế là dẫn đến một quyết định mang tính căn bản để tạo ra tác phẩm “Lập lòe”. Tác giả đã thuê một đội quay phim, tìm những nóc cao ốc ở Hà Nội để thực hiện video. Lần này không chủ tâm quay trình diễn mà chỉ chú trọng đến hình tượng chiếc khăn đỏ để nói lên mối quan hệ của nó với lịch sử cá nhân, con người, xã hội. Hình tượng người trong tác phẩm không có màu tóc đen ngụ ý không có chủng tộc, nền trời xanh thuần khiết không muốn nói tới vùng miền hay khu vực. Chỉ thể hiện rõ nhất sự vận động của chiếc khăn đỏ tác động lên thân người đứng im dưới ánh nắng chói gắt. Đôi khi do độ trễ của hình ảnh mà người xem chỉ nhìn thấy dải khăn bay đến và rồi một vết hằn xuất hiện trên da thịt. Âm thanh được thu ở Singapore và do chính tác giả biên tập tổng thể. Tác phẩm được phát hành 5 phiên bản duy nhất, gồm có 3 chương Ngây thơ hào hứng, Trưởng thành, và Kết thúc, thể hiện một thái độ đối với lịch sử.

Giám tuyển của Bảo tàng Guggenheim, New York, khi đi tìm tác phẩm cho triển lãm No country (Tạm dịch là không biên giới) năm 2013, đã mua ngay và trình chiếu trong khuôn khổ triển lãm. Các bảo tàng Guggenheim và bảo tàng MOMA (Museum of Modern Art) ở New York từ năm 2000 đã chú ý sưu tầm nghệ thuật đương đại để bổ sung cho bộ sưu tập của mình. Bảo tàng MOMA đã xây dựng tòa tháp ở chính giữa để tăng diện tích và bảo tàng Guggenheim đã phát triển phân viện ở vùng ngoại ô nhằm phục vụ mục tiêu này. Tuy nhiên bộ sưu tập vẫn còn một khoảng trống dành cho khu vực Đông Nam Á và tác phẩm “Lập lòe” cùng tác giả của nó là một đại diện xuất sắc đóng góp cho bản đồ nghệ thuật đương đại thế giới.

Các nghệ sĩ nghệ thuật đương đại Việt Nam liệu có học hỏi được gì từ tuyên ngôn và các luận giải của lý thuyết Thẩm mỹ truyền thông hay không, điều này còn chưa được khẳng định, nhưng có một điều chắc chắn là họ nắm vững các quan điểm cơ bản của Thẩm mỹ truyền thông với một tri thức cao và cảm nhận thực tiễn đầy tự tin và một tinh thần trách nhiệm đối với xã hội. Nghệ sĩ không xu thời và cũng không phá phách, họ lao động bằng nhiệt huyết và cảm nhận sâu sắc về một sự thay đổi, một lối ứng xử mới với nghệ thuật và con người. Trong sự khủng hoảng về nhận thức thẩm mỹ trong giai đoạn hậu công nghiệp và đặc biệt ở Việt Nam, các nghệ sĩ đã lầm lũi tiến lên với những tuyên ngôn nghệ thuật phá bỏ bức tường bảo tàng trong lòng họ. Trong tác phẩm “Lập lòe” cũng như các tác phẩm trình diễn khác, yếu tố nội tâm và thiền được thể hiện thông qua sự hành xác, sự chịu đựng. Những mảng da thịt được phơi bầy dưới những lằn roi của chiếc khăn đôi khi hằn lên rỉ máu thể hiện sự gợi cảm tính dục nhiều ẩn ý. Sự mô phỏng quyền lực được thể hiện qua sức mạnh bất ngờ của dải khăn mềm mại, một hiệu quả có phần bạo lực nhưng không kém tinh tế. Các thông điệp được kết cấu xây dựng theo hướng gợi mở chứ không áp đặt dưới bàn tay biên tập của nghệ sĩ đồng thời là kiến trúc sư thông tin. Sức biểu cảm luôn có phần thuộc về nội giới và ngoại giới. Đôi khi sức biểu hiện gần với sự vô nghĩa của khoảng trống, của sự liên tưởng đến vũ trụ và sự vô ngôn.

Các nghệ sĩ nghệ thuật đương đại Việt Nam đã dần khẳng định tính đúng đắn của con đường họ đã chọn trong tiến trình phát triển của nghệ thuật toàn cầu với cơ sở lý luận chặt chẽ và khoa học. Trong thời đại của thông tin và công nghệ truyền thông, nghệ thuật đã hòa nhập với công nghệ phá bỏ bức tường ngăn cách đi thẳng vào cuộc sống, tương tác và cùng sáng tạo với quần chúng và xã hội. Thẩm mỹ truyền thông đã xác lập được các yếu tố thẩm mỹ mới phù hợp với xã hội đương đại. Giải quyết được các mối liên hệ giữa nghệ thuật con người và xã hội, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng của nhận thức đối với các vấn đề mới của nghệ thuật.

Vương Trọng Đức

Tài liệu tham khảo:

  1. Lê Trần Hậu Anh (2016), Mỹ thuật Việt Nam – Những biến đổi trong thời đại công nghệ thông tin, Luận án tiến sĩ, Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, Hà Nội.
  2. Bùi Hoài Sơn (2008), Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi văn hóa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội
  3. Nghiên cứu mỹ thuật (2007), Trường đại học Mỹ thuật Hà Nội – Viện Mỹ thuật, Nxb. Mỹ thuật, Hà Nội.
  4. Communication aesthetics, World Heritage Encyclopedia
  5. Costa, Mario (2010), Contemporary art and aesthetics of the flow, Edizioni Mercurio, Vercelli, Euro 15.
  6. Costa, Mario (2005). Phenomenology of New Tech Arts, University of Salerno, Artmedia.
  7. Forest, Fred (1985), “For an aesthetics of communication”, Retrospective – Sociologic art, webnetmuseum.org
  8. Jimenez, Marc (2016), 50 câu hỏi mỹ học đương đại, Nxb. Thế giới, Hà Nội. (Phạm Diệu Hương dịch)