NHÂN NGÀY TẾT LẠI NHỚ HOÀNG TÍCH CHÙ

 

Hoàng Tích Chù ở ngôi nhà hai tầng trong một ngõ khuất ở phố Ngô Sĩ Liên. Ông có dáng người mập mạp, đầu cạo trọc, nom như ông sư phá giới. Hoàng Tích Chù vui tính nên cũng dễ gần. Kể về ông cũng thấy hay hay…
Ông có người anh ruột là Hoàng Tích Chu (tức Hoàng Hồ), học làm báo ở bên Tây về, có tư tưởng tiến bộ, đã từng cùng với Đỗ Văn ra chung tờ báo “Đông Tây” ở Hà Nội. Hoàng Hồ được tiếng là hào hoa phong nhã, ông có dan díu với cô Vương Thị Phượng. Cô Phượng có bố người Hoa, mẹ người Việt, nổi tiếng đẹp nhất Hà thành hồi bấy giờ. Cô lấy chồng là cậu Ả Cẩu – cháu cụ Phan Bách Vạn. Cụ Vạn có cửa hàng bán tơ lụa to nhất ở phố Hàng Ngang…
Hôm cưới cô Phượng và cậu Ả Cẩu, nườm nượp nào ô tô, nào xe song mã đỗ đầy phố, tiếng pháo nổ ran, người đứng xem đông như hội. Trong nhà mọi người thi nhau đập nồi niêu, bát đĩa, muối gạo ném ra tứ phía, rồi khóc om xòm. Có một “bà mụ khách” cõng cô dâu ăn mặc xiêm áo theo lối tuồng Tàu. Khi cõng ra ô tô có màn che phủ kín. Cô dâu ngồi trong xe miệng gào khóc tay đập vào đùi bì bạch như người bị bắt cóc. Vì người Tàu có tục cho rằng đã lấy chồng là xa cha mẹ cửa nhà, chẳng chết cũng coi như chết. Khi đưa dâu về đến nhà chồng, “bà mụ khách” lại cõng cô từ xe xuống, vừa vào đến cửa muối gạo lại ném xuống, rồi cõng cô dâu vào buồng. Sau đó, ra lễ từ đường cúi chào cha mẹ, ông bà, chú bác.
Đến tối, gia đình đặt tiệc mời anh em thân bằng cố hữu và bạn bè thân thích. Cô dâu đi mời bánh mứt từng người. Các bạn thân chú rể nô đùa làm tội cô dâu, tục gọi là “náo phòng”. Mãn tiệc rồi ai về nhà nấy.
Ba ngày sau cô đã ra ngồi bán hàng, nhờ có sắc đẹp, ăn nói dịu dàng nên đông khách mua.
Hai vợ chồng ăn ở với nhau mấy năm đã được ba mụn con gái. Nhưng anh chồng thì mê gái định đòi lấy thêm cô đào Tuệ vốn là con đầu hát ở phố Hàng Giấy. Cậu Ả Cẩu say mê cô đầu nên nã tiền vợ đem cho nhân tình, xảy ra chuyện cơm chẳng lành canh chẳng ngọt. Lắm lúc lại đánh vợ, thượng cẳng chân hạ cẳng tay, khiến cô thâm tím mặt mày.

HOÀNG TÍCH CHÙ – Bản giao hưởng trắng. 1975. Sơn dầu. Sưu tập tư nhân, Hà Nội

Hoàng Hồ dò biết chuyện liền xúi cô Phượng đi kiện. Thời buổi văn minh này, nam nữ bình quyền, chồng mà đánh vợ gây ra thương tích có khi phải đi tù chứ chả chơi.
Hai người quen biết nhau, qua lại với nhau theo kiểu “già nhân ngãi non vợ chồng”. Họ hẹn hò rủ nhau khi thì đến thăm chùa Trấn Quốc, lúc ngồi máy bay lượn trên không trung ngắm cảnh Hà Nội. Từ trên nhìn xuống thấy sông Hồng chỉ nhỏ như chiếc đòn gánh kéo dài, nhà cửa bé xíu, ngôi nhà nào to nhất cũng chỉ bằng bao diêm. Sở dĩ hai người được đi máy bay như vậy vì Hoàng Hồ quen biết ông chủ nhiệm báo “Tiến hóa”, nên có giấy mời cả hai vợ chồng theo phương pháp lịch sự phương Tây.
Thời đó, vào năm 1919 được đi máy bay là chuyện hiếm có trên đời.
Sau chuyến bay đó, cô Phượng được báo chí hết lời ca ngợi vì là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên được ngồi trên máy bay.
Việc này đến tai Ả Cẩu nên hắn đã đuổi cô ra khỏi nhà. Cô đành cuốn gói theo Hoàng Hồ. Khi hai người ra vịnh Hạ Long ngắm cảnh đất trời bao la, trên trời dưới biển, phía tây có núi chè, phía nam có núi đũa, núi Tử Viên nhô lên trên mặt biển, bên trong có hang động giống như cột đá dựng lên những khối thạch nhũ hầm sâu thăm thẳm, thuyền nhỏ có thể đi thẳng vào được. Họ phong lưu ngắm cảnh, bày biện lương thực ra ăn, khi hai người ra về trời đã nhá nhem tối.
Sau đó, hai người lại có chuyến xuống Hải Phòng đi tàu thủy vào Sài Gòn. Ở đây gọi là Khánh Hội. Bước tới Sở Thụy Bình, rẽ ra đường Quảng Đông. Suốt từ Bình Tây đến Bình Đông, mọi nẻo phố phường đâu cũng đông đúc như ngày hội. Ở Sài Gòn được ít lâu Hoàng Hồ lại sang Pháp, cô Phượng ở Việt Nam. Hai người xa nhau từ đó nhưng trong lòng vẫn quyến luyến.
Cô Phượng bị bơ vơ không nơi nương tựa nên phải trải qua 5, 6 lần đò. Cuối cùng, cô bị điên, chết ở nhà thương Phủ Doãn, Hà Nội. May mắn thay, cô được nhân tình cũ là Louis Chước, chủ một xe đòn đám ma đứng lên mai táng và chôn cất ở nghĩa trang Bạch Mai.
Hồi ấy ở Hà Nội có ra quyển truyện lấy tên là “Mồ cô Phượng”, truyện dài độ 150 trang viết rất hay về cuộc đời bi thương của cô.
Thôi, miên man quá, tôi quay lại kể về chuyện ông Chù.
Trong gian nhà ấm cúng của Hoàng Tích Chù, trên bức tường treo tranh sơn mài vẽ cô thiếu nữ khỏa thân gảy đàn Tỳ bà trông có vẻ tình tứ. Cạnh bên có hai bức tranh sơn dầu của Bùi Xuân Phái vẽ cảnh bên trong sân khấu chèo.

HOÀNG TÍCH CHÙ – Tổ đổi công miền núi cấy lúa. 1958. Sơn mài. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Ông Chù thủ thỉ kể chuyện, ông theo học lớp dự bị để thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương mà mấy lần không đậu. Năm 1936, ông mới thi đỗ vào học khóa 11. Hoàng Tích Chù tốt nghiệp năm 1941, cùng khóa với Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Văn Tỵ và Bùi Trang Chước…
Năm 1949, ông lên Việt Bắc vẽ tranh tuyên truyền chống Pháp và dạy học ngắn ngày trong quân đội. Năm 1952, ông vào thành hoạt động bị cảnh binh bắt, giam ít ngày rồi thả.
Khi hòa bình 1954, ông dạy họa ở Trường Mỹ thuật Việt Nam, sau đó được cử làm Viện trưởng Viện Mỹ nghệ. Tôi ngồi với ông, từ chuyện Đông đến chuyện Tây, chuyện trong Nam chuyện ngoài Bắc rồi đến chuyện ăn mặc. Ông khen phụ nữ trong Nam mặc áo dài hở cổ hình vuông theo kiểu Trần Lệ Xuân là rất đẹp và văn minh. Còn tôi lại cho rằng mặc áo dài cổ cao như Nam Phương Hoàng hậu vợ vua Bảo Đại thì cũng rất đẹp và nền nã…
Hoàng Tích Chù cũng ngợi khen bảo nhìn phụ nữ đeo kính râm to, mặc quần tuýp trông văn minh và hợp thời. Tôi thì lại thấy cái kính to đùng che hết cả khuôn mặt thì chả hiểu còn đẹp ở chỗ nào.
Nhắc lại chuyện cũ, khi ông làm Viện trưởng Viện Mỹ nghệ, ông bảo nhóm thợ làm chiếc ấm pha trà quai bằng mây, chén làm hình vuông chứ không làm hình tròn, khay đựng chén trà cũng vậy.
Thấy vậy tôi bảo “Ông ơi! cái mà ông cho là mới chính là cái cũ của Nhật Bản, họ đã làm từ thời vua Minh Trị Thiên hoàng. Nếu đem ra so sánh thì thua đứt Nhật Bản rồi”.
Ngày Tết tới nhà Hoàng Tích Chù chơi, ông không mời ăn bánh mứt mà ăn bánh gio. Cái thứ bánh làm bằng gạo nếp ngâm với nước vôi trong, rồi gói bằng lá dong hay lá gio hay gio bếp gì đó, đun kỹ vớt ra khi bóc trông như mật ong đựng ở trong chai, xắn ra từng miếng chấm vào với mật ăn vào thấy rất ngon miệng có khi hơn cả bánh chưng. Chuyện trò đã khá dài tôi cáo từ ra về. Rời khỏi nhà ông trời đã sâm sẩm tối.

Ngày 6/11/2020
Nguyễn Bá Đạm

 

 

 

Tin cùng chuyên mục

Một kỷ niệm với Trần Duy

Một kỷ niệm Huế, những ngày tháng Tám… Tôi quen Trần Duy từ thuở ấy. Hai đứa gặp nhau ở Sở Tuyên truyền Trung bộ mới thành lập. Bấy giờ, anh Nguyễn Duy Trinh là Ủy trưởng Tuyên truyền Trung...

Chuyện ông Ba Đông

Với chiếc xe đạp mini mua từ năm nảo năm nào, thoắt cái ông ở chỗ này chỗ nọ. Trong nhà ông, tranh lụa, tranh sơn dầu, sơn mài… chật cả phòng khách. Còn ở phòng vẽ thì ngổn ngang những tranh...

Con trâu là đầu cơ nghiệp… nay đâu?

Năm 2004, tôi được mời sang Bordeaux tham gia một dự án Nghệ thuật. Một ngày cuối tuần đi dạo ven dòng sông Ga-Rôn cùng giám đốc Trung tâm Nghệ thuật Dominik Lobera, tôi bắt gặp 17 cụm tượng thép...

35 năm chặng đường thăng trầm của Nhà xuất bản Mỹ thuật

  Đầu năm 2009 tôi về công tác ở Tạp chí Mỹ thuật (TCMT ), khi đó TCMT đã hơn 30 tuổi và Nhà xuất bản Mỹ thuật (NXBMT) hơn 20 tuổi. Ban đầu tôi nhận nhiệm vụ làm Phó Tổng Biên tập TCMT,...

BÁN TRANH

  Cô Minh, con gái họa sĩ Trần Lưu Hậu, từng đứng bán tranh ở gallery số 7 Hàng Khay năm xưa…trong một lần trò chuyện với tôi, cô bảo: “Không có tranh đẹp hay tranh xấu chú ạ, chỉ có...

Có thể bạn quan tâm

NHỮNG THẢM HỌA PHÁ HOẠI TRANH Ở BẢO TÀNG

  1. Ngày 14 tháng 1 năm 1911, kiệt tác “Đi tuần đêm” của danh họa Rembrandt tại Bảo tàng Amsterdam đã bị một thợ đóng giày thất nghiệp đồng thời là cựu đầu bếp của Hải quân rạch bằng...

NGÔ HUY QUỲNH – NGƯỜI NGHỆ SĨ ĐA TÀI

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh (1920-2020)   Lịch sử có cách lựa chọn và đối đãi con người rất lạ. Giữa một vườn hoa khoe sắc, nó thuận tay chọn lấy một bông hoa...

Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam khóa IX (2019 – 2024)

Diễn ra trong 3 ngày, từ ngày 11 đến 13 tháng 12 năm 2022, tại nhà Triển lãm 16 Ngô Quyền – Hà Nội, Ban Chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam khóa IX (nhiệm kỳ 2019 – 2024) đã họp phiên thường...

SIN YUN BOK VÀ TRANH PHONG TỤC THỜI JOSEON

  Sin Yun-bok (Thân Nhuận Phúc) hiệu là Hye Won (Huệ Viên) sinh năm 1758, năm vua Yeongjo (Anh Tổ) thứ 34 của triều I (Lý). Cha ông là Sin Han-pyeong (Thân Hán Bình) và ông nội đều là hội viên của đồ...

Bìa Tạp chí Mỹ thuật số 289&290 tháng 1-2/2017

...