Về bức bình phong hai mặt. Mặt trước: Tranh Lê Phổ, mặt sau: tranh Trịnh Hữu Ngọc

 

Cuộc phiêu lưu của bức bình phong này là một câu chuyện thú vị, và câu chuyện cũng là một phần giá trị của bức bình phong.

Câu chuyện liên quan đến ba họa sĩ: Lê Phổ, Nguyễn Gia Trí và Trịnh Hữu Ngọc.

Thời gian (không liên tục) để có được bức bình phong hai mặt như ta thấy hiện nay là khoảng trên dưới 30 năm, và thời gian bức bình phong phải chịu một số phận “hẩm hiu”, được ít người biết tới, cả trong chiến tranh và trong hòa bình, cũng trên dưới 60 năm, trước khi nó được trân trọng trưng bày như một bảo vật quý trong một bộ sưu tập ở Hà Nội.

1. Người đầu tiên vẽ lên bức bình phong này: ông Lê Phổ, là một trong những họa sĩ đầu tiên đã cùng với các họa sĩ khác như Thăng Trần Phềnh, Trần Quang Trân, Phạm Hậu, Nguyễn Khang và nghệ nhân Đinh Văn Thành – thực hiện các thử nghiệm để đưa sơn ta, một chất liệu trang trí cổ truyền – vào hội họa, theo những tư tưởng và quan niệm mới, trên nền tảng học vấn và kỹ thuật mà họ đã tiếp thu được từ nghệ thuật phương Tây qua cái cầu là văn hóa mỹ thuật Pháp.

LÊ PHỔ – Phong cảnh Bắc Kỳ. Sơn mài (bình phong năm tấm). Toàn bộ nguyên bản lúc chưa tách. 200x400cm. Sưu tập tư nhân, Hà Nội.

Trong niên biểu của Lê Phổ, ở thời kỳ đầu, có ghi:

  1. Ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nhận những bản hợp đồng đầu tiên: những bình phong lớn bằng sơn ta và tranh trang trí cho Dinh Toàn quyền.
  2. Ông được Toàn quyền Đông Dương chỉ định làm phụ tá cho ông Victor Tardieu, Giám đốc nghệ thuật Tòa Angkor tại Triển lãm thuộc địa Paris. Thành viên ban giám khảo ngành mỹ nghệ do Jean Dunand, một chuyên gia về đồ sơn phương Đông- người đã trang trí cho con tàu thủy chở khách Normandie bằng những tấm sơn nổi danh – làm chủ tịch…

Với bức hoành sáu tấm “Phong cảnh Bắc Kỳ”, sáng tác vào khoảng 1929-1930 (sử dụng then, son, vàng và bạc), in trong tập “Ba trường mỹ thuật Đông Dương”, nhân dịp Đấu xảo Paris 1931, có thể nói, Lê Phổ (1907-2001) là một trong số ít họa sĩ Việt Nam đầu tiên đặt chân trên con đường mới của chất liệu sơn ngàn năm cổ truyền của dân tộc.

Tuy nhiên, kết quả những bước đầu ấy vẫn chưa thoát khỏi những hình thức trang trí cổ điển vì kỹ thuật chưa phát triển được, nên còn tình trạng đóng khung trong những phương pháp cũ trong việc làm sơn cũng như pha chế chất liệu và màu sắc.

LÊ PHỔ – Phong cảnh Bắc Kỳ. Sơn mài (bình phong ba tấm). Phân đoạn bên phải sau khi đã tách. 200x240cm. Sưu tập tư nhân, Hà Nội.

Đến năm 1935, tại Triển lãm SADEAI (La Société annamite d’Encouragement à l’Art et à l’Industrie/ Hội An Nam khuyến khích Mỹ thuật và Kỹ nghệ) lần thứ nhất, tổ chức ở Hà Nội, mùa xuân, có khoảng 200 bức sơn dầu, lụa, khắc gỗ, mực tàu trên giấy bản, nhưng vẫn chỉ có một bức bình phong “sơn” duy nhất của Lê Phổ, kỹ thuật và bút pháp vẫn hoàn toàn theo lối cũ.

Ở đây, cần lưu ý rằng, thời điểm năm 1935 vừa kể trên, rất khác so với những năm 1920 cuối cùng, cũng như rất khác so với các năm 1930 và 1931- bởi vì vào năm 1932, với sự ra đời của bức bình phong “Bờ ao” của Trần Quang Trân, một tác phẩm đã được coi như là bằng chứng đầu tiên khẳng định đẳng cấp “hội họa” đích thực của cái gọi là tranh “sơn mài” Việt Nam – thì chính cái thời điểm 1932 ấy cũng đã được coi như là thời điểm đã có một bước ngoặt trên quá trình tìm tòi và đã đánh dấu một “phát minh” trong nghệ thuật vẽ tranh sơn…

Từ 1937, họa sĩ Lê Phổ sang Pháp định cư, và kể từ đó ông không còn có cơ hội để tiến xa hơn nữa trên con đường chinh phục chất liệu sơn mài – một công việc rất phù hợp với khả năng sáng tạo nghệ thuật toàn diện của ông.

Cho đến nay, chúng ta chưa (và có thể sẽ không bao giờ) thống kê được đầy đủ các tác phẩm thể hiện bằng chất liệu sơn ta của Lê Phổ. May nhờ một số điều kiện khách quan, gần đây, số tác phẩm sơn ta của ông đã bắt đầu được biết đến nhiều hơn trước.

LÊ PHỔ – Phong cảnh Bắc Kỳ. Sơn mài (bình phong hai tấm). Phân đoạn bên trái sau khi đã tách. 200x160cm. Sưu tập tư nhân, Hà Nội.

Bức tranh giới thiệu ở đây thuộc thể hoành rất quen thuộc của thời kỳ đầu tiên. Thực ra nó đã được triển khai trên một đồ án hội họa trang trí đã được phát triển và nâng cao từ một bức tranh mà Lê Phổ đã vẽ vào những năm 1929-1930 (đã kể trên), và có cùng một nhan đề “Paysage Tonkinois- Phong cảnh Bắc Kỳ”.

Về mặt tạo hình, có thể thấy rất rõ ba nguồn ảnh hưởng: 1. Tranh khắc gỗ Nhật Bản thế kỷ 17, qua các yếu tố đồ họa trang trí và thức bố cục có những cây lớn chiếm hết chiều cao; 2. Phong độ đậm nhạt uyển chuyển, ẩn hiện của thủy mặc Trung Hoa cổ; 3. Cấu trúc không gian gần với hiện thực của hội họa châu Âu.

Và như đã nói, về mặt kỹ thuật chất liệu, căn bản là “tiền sơn mài”, trên bước đi đầu tiên của sơn mài cổ điển đồng nhất (laque unie), tức là chỉ dựa trên các chất sơn, các chất màu cổ truyền then, son, vàng và bạc, trước khi có những cải tiến về kỹ thuật, về chất sơn, chất màu và trước khi có sự xuất hiện của sơn mài sáng (laque claire)…

Phong cảnh được vẽ trong tranh chắc chắn dựa trên các tư liệu lấy từ một vùng trung du, yên tĩnh, không có một bóng người. Khác với bức tranh Lê Phổ vẽ năm 1929-1930, ở bức tranh này, cảnh đã được ông lấy gần hơn và được thêm nhiều chi tiết mang tính hư ảo.

Có thể vì chất sơn, màu sơn đã lên nước thời gian nên các độ tương phản nay đã không còn mạnh mẽ như lúc ban đầu, nhưng lại ánh lên những gam quý giá đầy âm vọng.

Bức bình phong gồm năm tấm. Theo lưu truyền, Lê Phổ chỉ hoàn thành được ba tấm bên phải. Năm 1937, trước khi ông sang Pháp tham dự Đấu xảo Paris rồi ở lại hẳn, ông đã nhờ Nguyễn Gia Trí tiếp tục hoàn thành nốt phần còn lại.

Có thể vì thế mà phong cách thể hiện bức tranh nhìn về toàn bộ có sự chênh, hai tấm bên trái có vẻ nhiều chất “vàng-son” hơn, một đặc trưng cho nghệ thuật của Nguyễn Gia Trí. Vả, phần của Gia Trí cũng trừu tượng hơn.

TRỊNH HỮU NGỌC (1912 – 1997) – Tiếp quản Thủ đô. 1964. Sơn khắc (bình phong bốn tấm). 200x320cm. Sưu tập tư nhân, Hà Nội.

Nếu nói về mặt tác quyền, thì theo thông lệ (vì trường hợp như thế này đã từng xảy ra nhiều trong lịch sử), bức tranh là của Lê Phổ. Và sự đóng góp của Nguyễn Gia Trí là một tình tiết tuyệt vời trong lý lịch của bức tranh.

Đối với các nhà nghiên cứu, đặc biệt các nhà nghiên cứu sâu về lịch sử hội họa sơn mài Việt Nam, bức tranh vẽ trên bình phong, “Phong cảnh Bắc Kỳ”, tác giả Lê Phổ – chính là một tiêu bản, một tư liệu lịch sử và nghệ thuật vô cùng hiếm có mà do may mắn, do số phận vô cùng đặc biệt của bức tranh mà nó vẫn còn được ở lại nơi nó đã được sinh ra.

2. Mặt sau của bức bình phong là bức tranh sơn khắc của Trịnh Hữu Ngọc, một sự kết hợp đầy “nghịch lý” chỉ xuất hiện trong những hoàn cảnh ít có của lịch sử…

Trịnh Hữu Ngọc là một họa sĩ bậc thầy trong hội họa sơn dầu. Ông có thử nghiệm cả sơn mài, nhưng đây có lẽ là bức tranh sơn khắc duy nhất được biết đến của ông. Bức sơn khắc được thể hiện trên bốn tấm bên phải (nhìn từ mặt sau), nền đỏ, đề tài: “Nhân dân Thủ đô chào đón bộ đội về tiếp quản”, và đã được hoàn thành vào năm 1964.

3. Gần đây, bức bình phong hai mặt: mặt trước tranh Lê Phổ, mặt sau tranh Trịnh Hữu Ngọc – đã được gửi sang Nhật Bản để tách thành ba bức tranh độc lập (bởi phần do Nguyễn Gia Trí hoàn tất đã được coi như một bức tranh riêng) và thực hiện bảo dưỡng.

Cả ba bức tranh hiện đang thuộc một bộ sưu tập tư nhân ở Hà Nội.

Quang Việt