Tài hoa ra trận

 

Nghiêng mình trước các liệt sĩ

đã ngã xuống trên mảnh đất này!

 

Đầu những năm 60 của thế kỷ trước, nhận thấy cuộc đấu tranh cách mạng còn phải kéo dài. Cấp trên chỉ thị cho Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (Tiền thân là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, 42 Yết Kiêu, Hà Nội) thành lập hệ Sơ Trung cấp Mỹ thuật 7 năm nhằm đào tạo có hệ thống vừa đáp ứng yêu cầu cán bộ trước mắt, vừa phát hiện các nhân tố có năng khiếu đào tạo tiếp ở cấp Đại học, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội và vạn nhất chiến tranh có thể xảy ra… Học sinh hệ 7 năm được tuyển chọn trên một địa bàn dài rộng gồm rất nhiều dân tộc trên khắp đất nước ta (cô Vũ Giáng Hương, thầy Nguyễn Thụ và thầy Lê Thiệp trực tiếp làm việc này). Khoá 1 và 2 gồm: Mô Lô Kai (Cà Tu – Tây Nguyên), Lò An Quang (Thái Đen – Sơn La), Trương Mai San (Sán Dìu – Sapa), Chu Thị Thánh (Nùng – Hà Giang), Vi Quốc Hiệp (Tày – Lạng Sơn). Rồi đến các “giọt máu” của đồng bào Miền Nam gửi ra: Nguyễn Thị Dung (Bến Tre), Lê Đức Biết (Bình Định), Lý Trực Sơn (Thừa Thiên), Nguyễn Hữu Song (Quảng Trị), Huỳnh Thị Cúc (Quảng Nam), Trần Thị Hồng (Quảng Ngãi), Nguyễn Hồng Phi (Đà Nẵng)… Các tỉnh đồng bằng có: Đoàn Văn Nguyên (Nam Định), Kiều Sỹ Khuê (Quảng Ninh), Lê Hướng Quỳ (Hải Dương), Vũ Quang Long (Hải Phòng), Nguyễn Bá Thi (Bắc Ninh. Các lứa sau có: Ca Lê Thắng (Sa Đéc), Lưu Mai Phương (gốc Hoa), Vũ Tuyết Mai (Hà Nội), Đặng Thu Hương (Hà Nội), Vương Học Báo (Hà Nội). Khoá “em út” 7 năm có: Phạm Mai Châu, Lê Văn Thìn, Phan Gia Hương, Lương Xuân Hiệp, Nguyễn Sỹ Bạch, Nghiêm Xuân Hưng, Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Thanh Bình, Huỳnh Hoàng Hồ, Trần Trung Chính, Trần Luân Tín. Thủ đô cũng góp phần không nhỏ: Nguyễn Thành Chương, Trịnh Việt, Hoàng Minh Hằng, Đào Minh Tri, Tạ Phương Thảo. Trong số đó có Hoàng Tích Minh, Nguyễn Quang Việt, Lê Minh Trịnh, Hoàng Thượng Lân… Là những liệt sĩ đã bỏ mình vì nước trong cuộc chiến khốc liệt sau này. Hệ 7 năm có tất cả 5 khoá, tổng cộng khoảng 150 em, rồi sau này chuyển sang hệ 5 năm cho phù hợp với tình hình mới.

Bác Hồ thăm Triển lãm Tranh tượng của họa sĩ và các cháu 7 năm miền Nam tập kết tại Câu lạc bộ Thống nhất, Hà Nội năm 1962.

 

Học sinh hệ Sơ Trung 7 năm tham gia biểu tình chống Mỹ Diệm năm 1962.

 

Ngoài giờ học, các em đã bắt đầu các đợt tập quân sự, trong khi chiến sự ngày một tăng.

 

Cô chủ nhiệm lớp 7 năm Vũ Giáng Hương cùng học sinh tại đợt cuốc ruộng giúp dân dài ngày ở Vũ Bùi, Duy Tiên, Hà Nam 1964.

Ngày ấy, khoá 1 và 2 hầu như sinh hoạt chung, sáng học văn hoá, chiều học vẽ, cuối giờ chơi thể thao, tối sinh hoạt đoàn thể. Ăn ở tập thể dưới sự quản lý trực tiếp của cô Đức (vợ thầy Văn Bình) và gián tiếp của bác Trần Văn Lắm (Hiệu phó). Đầu những năm 60, những năm “thịnh vượng” của thời kỳ quá độ tiến lên xã hội chủ nghĩa, học sinh các dân tộc thiểu số với sắc phục sặc sỡ đủ màu, cổ quàng khăn đỏ (tất cả đều là đội viên thiếu niên tiền phong) đã để lại biết bao kỷ niệm về tình thầy trò trên giảng đường, trong các đợt thực tập hàng tháng trời ở miền quê, vùng núi Bắc Bộ trù phú chưa hề nếm mùi bom đạn… Những trận đá bóng đến khi không nhìn rõ mặt người ở công viên Bảy Mẫu, những vụ đụng độ không thương tiếc với bọn trai xóm Hạ Hồi, những cuộc bơi trưa hè ở hồ Ha Le, rồi những cuộc thi ăn kem Tiến Đạt, ăn bánh sắn ga Hàng Cỏ… rồi cuộc đấu quyền anh của đám trai 7 năm mà găng bốc là hai đôi găng do Lân thuê về. Vụ đó bị bác Lắm phạt kiểm điểm vì đã du nhập môn thể thao “dã man” vào trường. Để trả đũa, không biết ai đã nghĩ ra trò đào hầm chông bẫy thầy hiệu phó mà que chông là que kem Tiến Đạt (gần ngõ Yết Kiêu bây giờ) vót nhọn tẩm nước cống. Ôi! Tuổi trẻ nông nổi và ngông cuồng, ngang tàng và nghịch ngợm nhưng cũng để lại bao kỷ niệm chẳng thể quên cùng biết bao phiền toái…

Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Đế Quốc Mỹ dựng lên vụ tàu Ma Đốc, đơn phương đánh phá miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Phải nói là sau cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhân dân Việt Nam đã đào tạo ra một thế hệ thanh niên vừa giỏi chuyên môn, vừa yêu nước, sẵn sàng hy sinh quên mình vì Tổ quốc. Thầy và trò Trường Mỹ thuật Việt Nam nhiều người cũng nằm trong lớp người đó. Địch bắn phá Hà Nội, cả trường sơ tán về Hiệp Hoà – Hà Bắc. Học sinh hệ 7 năm lại sống cùng với dân, vừa học tập, vừa cày cấy gặt hái cùng dân. Phải nói rằng, thầy trò Trường Mỹ thuật rất giỏi dân vận. Rồi đào hầm chống bom Mỹ, lấy tre nứa tự dựng trường lớp. Học sinh và sinh viên hết lớp này đến lớp khác xung phong vào các tuyến lửa Đò Lèn, Hàm Rồng thâm nhập vào các đơn vị thanh niên xung phong, đêm lấp hố bom, ngày vẽ… Nhiều đoàn sinh viên ngưng học nửa chừng tình nguyện vào Nam công tác và chiến đấu. Những lực lượng hàng đầu phải kể đến các học sinh, sinh viên gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp chiến đấu trên các chiến trường A, B, C, K… trong sắc phục của các quân binh chủng của lính ta. Những người đầu tiên rời ghế nhà trường cầm khẩu AK có: Hoàng Thượng Lân, Vũ Quang Long, Long Nam Cường, Lê Minh Trịnh (Bộ binh – Binh đoàn Trường Sơn), Thành Chương (Bộ đội Công binh), tiếp theo là Nguyễn Quang Việt, Phạm Mai Châu, Lâm Đình Chiến, Hoàng Tích Minh, Quách Thiện Thuật (Sư đoàn 325 – Binh đoàn Hương Giang – Quân đoàn 2). Rồi Lê Trí Dũng (Lữ đoàn 203 Bộ đội xe tăng), Lý Trực Sơn (Cao pháo Phòng không – Tây Nguyên). Rồi Nguyễn Đăng Dũng (Tên lửa, Bộ đội Phòng không – Không quân), Nguyễn Thanh Bình, sư đoàn 320 binh đoàn Tây Nguyên. Trần Luân Tín, Phạm Mai Châu, sư đoàn 325 đánh Thành cổ Quảng Trị…

Đội kịch hệ 7 năm trong giờ diễn tập.

 

Họa sĩ Nguyễn Thanh Bình (học sinh khóa 5), người bên tay trái, nhập ngũ 9/1972 trong Sư đoàn 320 chiến đấu tại mặt trận Tây Nguyên. Tham gia chiến dịch giải phóng Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh.

 

Họa sĩ Nguyễn Thành Chương (học sinh khóa 2) người đứng cao nhất bên tay trái, nhập ngũ 1967 trong Binh chủng Công binh, tham gia chiến dịch Quảng Trị.

 

Họa sĩ Lê Trí Dũng (học sinh khóa 2) nhập ngũ tháng 1/1972 trong Binh chủng Tăng thiết giáp, tham gia chiến dịch Quảng Trị.

Tất cả, tất cả đã sống và chiến đấu không hổ danh là những người trai hệ 7 năm Trường Mỹ thuật Việt Nam. Hoàng Tích Minh bị pháo làn tiện đứt một chân, đơn vị thương vong gần hết, bị nhiễm trùng máu và hy sinh tại trạm phẫu tiền phương. Lê Minh Trịnh bị B52 rải thảm hy sinh trên đường hành quân. Nguyễn Quang Việt bị trúng mình tại đèo Đá Bạc dưới chân Hòn Tàu (Quảng Nam) trong lúc dẫn tiểu đội đi trinh sát tình hình địch. Vũ Quang Long thì trải qua nhiều trận dữ dội vào sinh ra tử, an toàn, được ra Bắc an dưỡng. Cuối năm 1970 tôi có gặp anh tại nhà người thân ở phố Nhà Chung. Lạ thay, sau những trận giáp lá cà với địch tính tình Long lại dịu dàng đi rất nhiều so với thời còn là tiền đạo “hổ lửa” của đội bóng 7 năm. Chỉ có cặp mắt trố, cái đầu trọc và nước da tái xanh là vẫn như xưa. Nhưng chỉ tuần sau, chính tôi lại là người đưa tiễn và chôn cất anh tại nghĩa trang làng Phù Đổng. Bom đạn, kẻ thù không giết được người dũng sỹ nhưng cơn sốt rét ác tính bất ngờ, hậu quả của những năm tháng ở rừng đã quật ngã anh. Thế còn may, anh đã về đến quê nhà để yên giấc ngàn thu. Số phận của Hoàng Thượng Lân bạn cùng khóa với Long thì lại khác hẳn. Nhập ngũ 1967, hy sinh cuối 1971 (đúng vào giai đoạn chiến sự vô cùng gian nan của cách mạng Việt Nam) đóng quân trên đất Quảng Trị, vùng chiến đại “Cơm Bắc – Giặc Nam”, nơi mà trong tám quyển nhật ký của Hoàng Thượng Lân vẫn ghi là: “Mỗi tấc đất đá đều bị xay nhỏ như bụi…”. Trưởng thành qua hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, có trận trung đội thương vong gần hết. Cao to, Lân thường được giao hỏa lực chính của đại đội: Sử dụng RPD hoặc B40… Mùa hè 1969, lớp tôi vào Vĩnh Linh thực tập, sáu đứa chúng tôi đạp xe đạp vào tuyến lửa dưới bom đạn địch. Tới Tùng Luật, nghe nói Lân đang ở Vĩnh Chấp (Vĩnh Linh) cách nơi tôi ở 15km. Xe hỏng, tôi cuốc bộ tìm Lân, tới một nhà hầm, nhắn hỏi một người lính. Anh ta bảo: “Anh chờ, gọi anh hai”. Lúc sau, một người cao to, dáng hơi gù gù khom mình chui vào nhà hầm, rồi một cái vỗ tai nặng trịch, rồi oang oang… Lân vẫn ngang tàng, phòng khoáng như xưa, rồi đám lính chiến quây vào, có gì ngon nhất đem ra đãi bạn của “anh hai”. Tôi nhìn xuống bàn tay phải của Lân, không còn ngón cái… Lúc chia tay, Lân tặng tôi cái võng bạt và chiếc ca Mỹ (tôi còn giữ đến giờ). Ngày hôm ấy là một ngày đặc biệt, về gần đến nhà Vĩnh Kim tôi còn gặp Nguyễn Sao Mai cũng là một học sinh hệ 7 năm khóa 3 vừa đi trận về, bị Napan đốt, da mặt chảy ra thành giọt, như sáp nến gặp lửa. Thời gian trôi đi. Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào nổ ra năm 1971, sinh viên chúng tôi nôn nao trước chiến sự, không thể không ngồi yên làm bài thi tốt nghiệp. Một người gõ cửa nhà tôi, đó là Hoàng Thượng Lân, vẫn cao to, hơi gù gù (nhiều nét giống nhà thơ Quang Dũng) chỉ khác là lần này khoác chiếc “cốt xư ghin” (một loại quân phục mùa đông cho lính của quân đội ta), trên đầu ngang tàng chiếc “bê rê bát” đội lệch, chân vẫn dận đôi dép lốp bốn quai “Bình Trị Thiên khói lửa”. Anh đến chào tạm biệt gia đình tôi (Phụ thân hai người có quen biết nhau) để lên đường vào chiến trường “Đánh nốt trận này” chia lửa cùng đồng đội rồi có thể ra Bắc làm phóng viên báo Quân đội nhân dân. Tài hoa như Lân, viết văn, làm báo, làm thơ, vẽ tranh được, thổi sáo trúc, kèn Acmonica giỏi, đá bóng loại cừ, chụp ảnh khá… lại kinh qua trận mạc dày dạn thì báo Quân đội nhân dân lấy về là phải, tôi nghĩ vậy ! Có cái lạ, anh đòi chia tay tới từng tận người trong gia đình tôi như có linh tính điều gì. Cha tôi đang vẽ cũng xuống và tiễn anh ra tận cổng.

THÀNH CHƯƠNG – Vượt qua bãi B52 bên đường 9 (Quảng Trị). 1970. Ký họa chì

 

LÊ TRÍ DŨNG – Vượt trọng điểm. Sơn mài. 90x120cm. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

 

LÊ TRÍ DŨNG – Nuôi lợn trên chốt. 1973. Ký họa chì than. 30x40cm

Ba tháng sau thì tôi nhập ngũ. Khói lửa chiến tranh cuốn mỗi người đi một ngả. Mãi sau giải phóng miền Nam, khi chuyển ngành về Báo ảnh Việt Nam (nơi phụ thân Lân lãnh đạo) tôi mới biết Lân đã hy sinh ngay sau khi trở lại chiến trường lúc cùng đơn vị vượt sông Sê Băng Hiêng. Chiến tranh đã cướp đi của chúng ta bao nhiêu là người thân, mà lại toàn những người ưu tú, tài hoa như thế. Những năm tháng các anh hiện hữu trên cõi đời này dường như là trời sai các anh xuống để làm một việc là để lại sự nuối tiếc trong lòng người ở lại hình ảnh hào hoa, ngang tàng, phóng khoáng và lãng mạn của những người trai hệ 7 năm, đánh giặc vô tư, tình yêu trong sáng, hết lòng vì nước vì dân… Nhưng lắm lúc, tôi lại chạnh lòng nghĩ rằng: Thôi, có lẽ các anh hy sinh như thế lại sung sướng hơn, không phải trải qua 10 năm bao cấp nhọc nhằn, đỡ phải chứng kiến cái thời kinh tế thị trường khốn khổ mà đồng tiền là thống soái, con người đối xử với nhau chả còn ra cái giống gì… Mà nghĩ cho cùng cho cạn, rồi thì ai mà chả phải chết, chỉ có đi trước đi sau mà thôi, có ai là sống mãi được đâu?

Giờ đây, phần lớn các anh đã yên nghỉ ở nghĩa trang Từ Liêm – Hà Nội. Nơi đó có Hoàng Tích Minh, Nguyễn Quang Việt… Nhưng trước khi đến đó, Hoàng Thượng Lân đã phải trải qua một cuộc “bể dâu”, sau khi hy sinh, sau 24 năm nằm ở nghĩa trang Trường Sơn, một gia đình liệt sỹ khác đã bốc mộ “nhầm” anh đem về quê họ ở Hà Tĩnh (cũng là quê anh). Hai năm rong chơi nơi quê cha đất tổ, anh lại được các em đưa về Hà Nội (nơi anh sinh ra, lớn lên và đầu quân) để tiện hương khói. Phải chăng, lúc sống thì phi thường thì khi chết đi cũng linh thiêng? Tôi tin điều đó! Sách “Tử thư” Tây Tạng nói rằng, những người chết trẻ, nhất là hy sinh vì nghĩa lớn thì thiêng lắm. Tuy thể xác họ không còn nhưng linh hồn rất mãnh liệt. Riêng trong tôi, hình bóng những người lính đội mũ tai bèo, xốc AK, đứng thẳng người xả đạn trong ánh hoàng hôn… mãi mãi khắc sâu vào tâm khảm, suốt đời chẳng thể nào quên.

Đêm hạ tuần, 09/2005

Lê Trí Dũng