Mấy suy nghĩ về hội họa hiện đại trước Cách mạng tháng Tám

 

Tôi có mấy nhận xét về hội họa hiện đại kể cả một phần trước Cách mạng. Hiện giờ có nhiều người còn cho rằng nghệ thuật hội hoạ dưới thời thuộc Pháp là hoàn toàn vứt đi cả, bọn hoạ sĩ thời đó học theo trường tư sản đồi truỵ Âu châu tư tưởng tự do chủ nghĩa, nghệ thuật vị nghệ thuật, đồi bại tất cả. Họ còn chứng minh rằng cứ xa sự bồi dưỡng của Đảng của quần chúng, là ngựa lại quay về lối cũ, bất cứ đòi hỏi nào, điều kiện thay đổi nào cũng chỉ là để đi vào con đường tự do tư sản, con đường hình thức chủ nghĩa…

Thực ra dưới ách thống trị đè nén của đế quốc và phong kiến, nghệ thuật nào cũng không thoát ra ngoài cái ách đó để sống riêng biệt được. Dưới thời đó, nghệ thuật hội hoạ không có đất để ngóc đầu, không có chỗ thở tự do nhưng nghệ thuật ta không chết cũng như dân tộc ta không chết được. Nếu ta phủ nhận sức sống của hội họa ta lúc đó thì vô tình ta đã gạt cả sức sống và lòng yêu nước của một tầng lớp nhân dân lúc đó hay sao ? Người họa sĩ lúc đó không thuộc lớp người bị đè nén ư?
Tính chất đời sống đồi trụy của họ hầu như không có. Không có ai nghiện thuốc phiện – đến thuốc lá hầu như họ cũng kiêng, sợ mất thì giờ và bận tay vẽ…

TÔ NGỌC VÂN – Trong nhà (Bức thư). 1934. Lụa. 69x69cm. Sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Họ không sa đoạ quá đáng về thân thể như bọn nghệ sĩ Montparnatte, trong bọn đó có nhiều tên thuộc loại bệnh hoạn bẩn thỉu như pédérastic, maladie du sergent André… Không có ai sống kỳ quái như bọn chúng, đeo khuyên đeo vòng, quần xanh áo đỏ đi tìm cảm hứng giữa phố phường đang đổ mồ hôi vì lao động ở các thành phố Âu châu – đời sống điên loạn và bệnh hoạn này ăn sâu vào nội dung tranh của bọn đó. Cụ thể mà nói, cuộc đời hoạ sĩ lúc đó cũng là cuộc đời dở dang thất nghiệp, cảm thông được phần nào nỗi đau buồn mất nước, chui đầu vào cuộc đời tìm nghệ thuật, tìm nguồn gốc dân tộc, tìm hướng đi – dù có sai lầm có chập chững. Đấy là khía cạnh tốt của người hoạ sĩ trước Cách mạng.

Không phải ngẫu nhiên mà năm 30 – 31 ta có được một số tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh, không phải ngẫu nhiên mà có tranh vẽ truyền đơn Cộng sản của Đỗ Cung, không phải ngẫu nhiên phát minh ra được tranh quốc sử của Trần Phềnh, tranh sơn mài của nhiều hoạ sĩ và thợ sơn cộng tác. Không phải ngẫu nhiên hồi đó ta đã có nhiều bài lý luận về nghệ thuật tranh Tết, về con Rồng đời Lý, về nghệ thuật Đại La, nghiên cứu và học tập trống đồng Lạc Việt. Đấy là khía cạnh tích cực, khía cạnh tốt không thể bỏ qua được của những con người làm nghệ thuật trước Cách mạng, đấy là khía cạnh con người của nghệ sĩ còn dính liền với dân tộc, với nhân dân.

LÊ VĂN ĐỆ (1906-1966) – Cô gái ngồi trên cầu ao. 1954. Lụa

 

NGUYỄN PHAN CHÁNH (1892-1984) – Trốn tìm. 1938. Lụa

Đối với thiểu số hoạ sĩ thích kỹ thuật diễn tả của Âu châu, ta cũng không thể lấy sinh hoạt hàng ngày của họ để áp dụng làm tiêu chuẩn đánh giá toàn bộ tác phẩm của họ rồi kết luận vội vã là đồi truỵ hay bệnh hoạn như có nhà phê bình đã kết luận về Nguyễn Du và Truyện Kiều. Còn khía tiêu cực, khía phản Cách mạng cả trên con người lẫn nghệ thuật thì giơ ngón tay lên để tính ta có thể không đếm được đến hai, ba. Có hoạ sĩ không ở hàng ngũ với ta nhưng tranh lại vẽ thật thà, trơn tru rất tả thực. Cụ thể hơn ngay trên tranh của Tô Ngọc Vân mà anh em thường cho là ảnh hưởng nghệ thuật tư sản, nhiều nhất ảnh hưởng nghệ thuật Matisse, nghệ thuật hình thức nhiều nhất thì thực ra những tranh phụ nữ của anh – tuy lãng mạn và quyến rũ – cũng lành mạnh hơn loại tranh hình thức của Matisse, loại cubisme của Picasso, loại nữ của Modigliani hay rất Pasci ? rất nhiều vì nội dung sa đọa, rã rượi của nhiều bức tranh này.

Vả lại anh Vân hay vài ba anh em khác có lệch sang chuyện vẽ phụ nữ, lệch sang vẽ Lập thể thì cũng chỉ là những giai đoạn rất ngắn trên quãng đường sáng tác trước Cách mạng .

TRẦN VĂN CẨN (1910-1994) – Hai cô gái trước bình phong. 1943. Lụa. 45x48cm. Sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

 

NGUYỄN VĂN TỴ (1917-1992) – Tỉa thảm len. 1984. Sơn dầu. 60x80cm. Sưu tập tư nhân, Hà Nội

 

NGUYỄN VĂN TỴ (1917-1992) – Hội Đình Chèm. 1941. Sơn mài. 99,5x148cm. Sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Do đó tôi thấy trường phái Pa-ri không có rễ sâu trong đầu óc hoạ sĩ Việt Nam trước Cách mạng, nhưng trái lại tính chất đi tìm dân tộc, tính tìm gốc dân tộc thì luôn luôn sẵn có trong đầu óc họ. Do đó tôi thấy bản báo cáo nói hội hoạ Việt Nam trước Cách mạng hoặc một số anh em vẫn nhận định là khá nặng về tư tưởng hình thức chủ nghĩa, của trường phái Pa-ri, thì tôi cho là chưa sát và không đúng.

Do đó, cũng trong mấy bức tranh chép cách vẽ của VanGogh ở phòng triển lãm Mùa xuân, tôi cũng cho là không phải Trọng Kiệm hay Lưu Công Nhân trở về với tư tưởng nghệ thuật tư sản đồi bại. Tâm hồn họ lành mạnh, tươi vui lắm. Các bạn trẻ này đi tìm cách diễn tả thực tế mà thôi, họ đi tìm phương pháp vẽ, họ không có bệnh của loại tranh hình thức chủ nghĩa. Ta không cần chống hình thức chủ nghĩa trong anh em trẻ, ta chỉ khuyên anh em tránh chép theo cách vẽ của Âu châu và hướng họ vào đường lối diễn tả dân tộc.

(*) Trích “Tham luận đọc tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc III 1957

Nguyễn Văn Tỵ