Đồ Sứ Ký Kiểu trong không gian xưa

 

 

Khái quát chung

Đồ Sứ Ký Kiểu trong không gian xưa (ĐSKK) là khái niệm mà nhiều học giả và các nhà sưu tập cổ vật Việt hay sử dụng, nhằm ám chỉ cho một hàm nghĩa rộng hơn. Tức ĐSKK được người Việt cổ mô phỏng trên giấy với các họa tiết như mong muốn của mình cùng những chi tiết (phần cứng) về bố cục hình khối quy cách kích thước cho một “sản phẩm” bằng chất liệu sứ khi thành phẩm tại các lò gốm… và họ đặt làm những sản phẩm này tại Trung Hoa – Cảnh Đức Trấn. Nơi đây vốn dĩ là cái nôi của cả thế giới về những dải đất được thiên nhiên ưu đãi, có hàm lượng cao lanh tốt nhất, về những sản phẩm bằng sứ có nước men mọng như ngọc, về những quy trình sản xuất ngặt nghèo, về những họa pháp thần sầu trên từng sản phẩm của giới họa sỹ, nghệ nhân trong cả nước quần tụ về đây… Đối với những người làm công tác mỹ thuật nói chung, hay kể cả giới hội họa, thậm chí nhà sưu tầm cổ vật loại khác (không sưu tầm đồ sứ), thì khái niệm về ĐSKK có tính chất hơi mơ hồ và gần như không ảnh hưởng đến tư duy nhận định, nên họ đa phần tự cho phép nó nằm chung trong một phạm trù được gọi là “đồ sứ cổ”. Người viết chỉ có thể sơ lược về khái niệm này qua một số bài viết của các học giả có công trình nghiên cứu về ĐSKK trên cả nước, để độc giả và người yêu nghệ thuật có góc nhìn bao hàm hơn, bao dung hơn về một sản phẩm đồ sứ từ trí tưởng tượng và ý đồ riêng của người Việt đặt làm tại các lò gốm sứ Trung Hoa – Cảnh Đức Trấn. Và khía cạnh mà TCMT muốn nhấn mạnh việc chia sẻ với độc giả thân yêu nhìn nhận các sản phẩm đồ sứ cổ, những sản phẩm được trình bày bằng hình ảnh trên đây, dưới góc độ mỹ thuật & hội họa.

Đồ sứ ký kiểu được đặt trong không gian xưa.

 Đĩa sứ Thế kỷ 18

Đường kính 17cm Hiệu đề chữ NGUYỄN là đồ sứ kí kiểu (ĐSKK) giai đoạn giữa Tk 18 (do người Việt thuộc tầng lớp quan lại đặt làm bên Trung Hoa – Cảnh Đức Trấn theo mẫu mã và thể thức đồ án quy cách người của Việt đặt ra) Đây là Đồ án Chúc Thọ vẽ rất đơn giản. Là một trong rất ít hiện vật có hiệu đề chữ Nguyễn “nét đậm” và khu trôn nhỏ, cốt mỏng (không phải dạng trôn khoanh măng phổ thông) mà nó theo khuôn mẫu của đồ bốn chữ thuộc các đời chúa Trịnh đặt làm. Đồ án rất đơn giản, vẽ ít (một bên là hoa và một bên là hai chữ thọ lồng) để lại khoảng trống ở giữa khá rộng nhưng tạo cảm giác cho người xem thấy sự đơn giản một cách có tính toán. Có độ tinh tế khác biệt mà cho đến nay, lớp người hiện đại, những nhà st ĐSKK vẫn mang nhiều cảm xúc khi tiếp cận và luôn đặt dấu hỏi lớn về tư duy hội họa của tiền nhân cách nay vài thế kỷ (người viết: ý chủ quan đồ này do chúa Nguyễn đàng trong đặt làm).

 

Đĩa sứ TK 18. Đường kính 17cm. Hiệu đề chữ Nguyễn
Đĩa sứ TK 18. Đường kính 17cm. Hiệu đề chữ Nguyễn

 

Đĩa sứ TK 18. Đường kính 17cm. Hiệu đề chữ Nguyễn

Đĩa sứ Thế kỷ 18 Hiệu chữ Nam Đường kính 8cm Là đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh, giai đoạn Thế kỷ 18, với đồ án cũng rất đơn giản, gợi cho nhà st cảm nhận độ phiêu nhất định khi mang nó lọt trên tay, mà dân gian hay gọi những từ mang tính cường điệu; “bé hạt tiêu”. Đây là một trong những sản phẩm sứ cổ thuộc loại nhỏ nhưng có độ “kỹ thuật” và giá trị ! ĐSKKK luôn ghi dấu trong lòng người mê đồ sứ cổ một góc nhìn rất khác biệt. Nên khi một món đồ dù chưa một lần nhìn thấy, nhưng khi thấy là số đông người chơi sẽ nhận ra đó là ĐSKK được đặt làm! Có lẽ đây là một đặc biệt ân điển (riêng tư) của người Việt qua nhiều thế hệ, ăn sâu bám rễ từ bậc tiền bối tới lớp hậu duệ sau này…!?

Hội họa trong tranh trừu tượng luôn là nguồn tài nguyên dồi dào của giới họa sỹ. Chúng tạo cho người xem sự thỏa sức tò mò và trí tưởng tượng phong phú đến độ mà mỗi lần nhìn vào nó ta lại thấy một “câu chuyện” khác bên trong bức tranh được hiện ra. Tạo cảm một giác không bị nhàm chán, và giá trị của tác phẩm đôi khi được nâng lên từ chính khán giả! Trở lại với sản phẩm sứ cổ này sẽ cho ta thấy trí tưởng tượng của tiền nhân với chúng ta luôn được kết nối và phát huy… Đĩa sứ ký kiểu Thế kỷ 18 Không hiệu đề. Đường kính 14 cm Đề tài được thể hiện là một cành cây vẽ theo vòng cung của vành đĩa, cùng những họa tiết chiếc lá và đầu cành được vẽ cách điệu có ý đồ một cách chủ ý, mang đến cho nst và những người yêu mỹ thuật một góc nhìn hấp dẫn và trí tưởng tượng thêm phong phú… Hai trạng thái khác nhau, sẽ thể hiện khác nhau. Khi cành cây nằm bên trên sẽ thấy thấy giống với một con chim Phượng , và khi ta để cành cây nằm phía dưới ta lại thấy Rồng hiện ra thần kỳ. Người sưu tập thường gọi là (vẽ hóa) Thế nên ĐSKK của người Việt rất khác biệt với thế giới và luôn có chỗ đứng trong lòng người yêu ĐSKK. Qua bài viết nhỏ này muốn gửi gắm thông điệp đến đến với ngưòi yêu mỹ thuật về một thị trường đầy tiềm năng và cũng đầy mỹ thuật.!

 

Đĩa sứ ký kiểu TK 18. Đường kính 14cm. Không hiệu đề

 

Đĩa sứ ký kiểu TK 18. Đường kính 14cm. Không hiệu đề

 

                                                                            Tản mạn

MỘT MÙA TRĂNG

                                                                                                            . . .

Chiều bàng bạc loang loáng của dải nắng cuối ngày cũng vội tắt, không kịp thấy cả bóng dáng của hoàng hôn, mà ngọn đèn đường thì vẫn chưa kịp sáng. Cái giao thức mà mấy bữa nay Hạ còn chưa muốn đi, Đông thì chưa kịp đến, Thu vẫn còn đủng đỉnh thả mùa xuống đường.. làm trời đất về chiều cứ nhá nhem như đứa trẻ mải chơi đến giờ ăn tối mà vẫn chưa chịu về, khiến cánh Nhà đèn cũng từ ấy bối rối mặc định (bật – tắt) cho cái thời khắc “Phố lên đèn”

Sau bữa tối, như thường lệ, anh chậm rãi pha một ấm trà nhỏ rồi ngồi trước cái máy thu hình đang phát chương trình thời sự về thị trường bánh Trung Thu và các vấn đề an toàn thực phẩm, rồi dường như tai muốn ù, mắt như dần nhòe đi, như vô định giữa hiện tại và quá khứ, giữa hư vô và thực tại.. anh như đang cố tìm kiếm thứ ánh sáng sền sệt từ mẹ thiên nhiên lọt qua khe cửa, mà hồi nào.. còn là một thiếu niên anh đã có khả năng cảm nhận được vẻ đẹp ngọt ngào của nó! Vị chát và khói trà nhẹ đưa anh lạc về một vùng ký ức xa xưa, anh ngây ngô chìm vào thứ ánh sáng huyễn hoặc ấy mà chẳng đoái hoài đến chiếc tivi vẫn cứ ra rả bản tin bên tai..

Trăng kìa chúng mày ơi.,

Hồi ấy.. lâu lắm, cũng chẳng nhớ là mình bao nhiêu tuổi, chắc độ chỉ cao ngang ngửa cái thùng phuy, nhưng những ký ức về một mùa Trăng thì không thể nào quên.. nó chợt ùa về trong không khí nao nao đón Tết Trung Thu của lũ trẻ ngoài kia..

Trăng Khuyết

Bọn mình mấy thằng choai choai như đã hẹn từ chiều là ăn xong sẽ cùng nhau ra phố mua đồ chơi, khi đúng độ trăng về tỏa sáng trên khắp các nóc nhà. Lũn cũn mấy đứa, đứa thì đi dép đứa thì không! Đi hết con đường lổn nhổn đất đá pây lẫn bụi trắng rồi đi qua một cái ống cống to nằm dưới lòng sông thay cho chiếc cầu mà tự bao đời người dân nơi đây họ gọi nó bằng hai từ thân thương: “Cống Mọc”

Dòng sông ngày ấy còn độ nguyên sơ trong suốt, nuốt trọn bóng trăng vào lòng. Gió thổi, mặt nước rung lên, mảnh trăng như muốn vỡ òa, cùng những sinh vật còn chưa đi ngủ dưới đáy ngoi lên, phá vỡ mọi sự tĩnh lặng trên bề mặt, khiến cho lớp bạc nhếnh nháng lăn dài như dải lụa mềm miên man bất tận.. và con sông đêm nay dịu dàng đến nỗi “lữ khách” chúng tôi cứ muốn dừng chân..!

Trăng mỗi lúc một sáng, bọn trẻ mỗi đứa một ít tiền để dành từ hồi đầu hè, nay đem đi tiêu cho thỏa. Ngoài phố những quầy hàng họ dựng tạm bằng tre liếp, bên trong hầu như quầy nào cũng có trống bỏi, trống cơm, mặt nạ, đèn ông sao.., còn tàu thủy chạy bằng dầu hỏa và đầu lân nệm giấy thì ít hơn vì nó thuộc hàng xa xỉ lúc bấy giờ, muốn mua phải lên phố lớn mới có. Ngoài ra còn nhiều thứ khác xanh đỏ bắt mắt, như tò he, hạc giấy, đèn lồng. Đứa nào cũng háo hức vội mua cho mình một thứ gì đó nho nhỏ để có thể chơi được ngay.!

Dọc theo con phố nhiều cây lớn xà cừ, bàng khô rụng lá, những cây me già lắc lư.. xen kẽ là những quầy hàng lớn nhỏ mà nó rất giống với một phiên chợ Tết xưa vùng quê Bắc bộ. Mọi người từ các nơi đổ về mỗi lúc một đông.. mấy đứa con gái thì đẩy chiếc đèn kéo quân, nến thắp bên trong phản chiếu những hình ảnh sinh động được khéo léo lộ ra qua khe sáng, đứa khác thì cầm trên tay cây đèn ông sao, cũng nến bên trong, xoay qua xoay lại mà mầu sắc của nó đẹp đến lạ thường. Hồi ấy, ở đây không có đèn đường, các quầy hàng thì hầu như đều dùng đèn mang sông, vì điện buổi tối rất yếu, không đủ sáng! Bọn con trai thì cầm những chiếc trống bỏi nhỏ xíu, thi thoảng lại lắc qua lắc lại, tiếng lốc cốc gõ giòn tan.. khi mình thôi thì đầu đường đằng kia đứa khác gõ, khi đứa khác ngừng thì ai đó bên kia đường gõ.. và cứ thế giai điệu ngày hội càng rộn ràng dưới những bước chân, dưới những tiếng cười của dòng người qua lại. Từ người lớn đến trẻ nhỏ, từ cụ già đến thanh niên.. đều cùng hòa vào trong không khí đón Tết qua tiếng động dân gian, tiếng thở của thời bao cấp ấm áp., xua đi mọi lo toan trăn trở của người lớn. Họ cùng dựa vào nhau và chia sẻ những khó khăn, để lũ trẻ chúng tôi thực sự có một mùa Trung Thu đúng với giá trị mà bây giờ rất khó để người lớn chúng ta có thể làm được!

Trăng Tròn

Gió thu miên man thổi, đêm trăng lồng lộng dần lộ ra từ mùi trầm hương bố thắp cúng rằm chiều tối năm ấy với đầy ắp một mâm cỗ.. na, bưởi, hồng, chuối, bánh nướng bánh dẻo và cả nến, được bày ngay ngắn trên chiếc tủ bích phê mà nó như một huyền thoại về sự “đề co” trong mỗi gia đình cán bộ công nhân viên chức thời bấy giờ.

Mùi hương, mùi bưởi, mùi bánh.. tỏa khắp căn nhà. Mùi dầu đèn, mùi dầu hạt bưởi khô được sâu thành chuỗi đang cháy lốp đốp. Mùi thị, mùi trà xanh bố pha thơm lừng. Mùi mồ hôi của mẹ từ chiều lụi hụi trong bếp, vừa nấu vừa cho lợn ăn, cả chuồng lẫn bếp vẻn vẹn có 5m vuông, nó đang lớn như thổi, chắc nhà mình tết năm nay sẽ bớt khó khăn và mâm cơm mẹ bưng ra để chiếu giữa nhà thơm mùi rau muống xào tỏi..

Ăn xong, bố bưng mâm bánh trên tủ xuống, mắt tôi và mấy đứa trẻ cùng xóm sáng lên!

Mùi hương trà ướp sen người ta cho, bố tôi để dành.. tỏa khắp căn căn nhà năm ấy..!

Mẹ tôi đứng nhìn mấy đứa rồi cười, bố đưa chén trà lên môi.. hướng cặp mắt về phía có những vệt sáng, bâng khuâng – vô tận

Lương Trần

“Trăng vào mỹ thuật”

Lương Trần