ÔNG NÓI CH… NÓ CŨNG CHẲNG NGHE ĐƯỢC

Hắn là một họa sĩ, kém tôi 8 tuổi, và tất nhiên hắn gọi tôi là anh…dù hình như vợ hắn và tôi bằng tuổi nhau. Tôi cũng coi hắn như em và gọi hắn là chú. Tuy quen biết nhau nhưng thực lòng cũng chỉ biết sơ sơ. Biết tôi chơi tranh nên thỉnh thoảng hắn lảng vảng ghé thăm.
Hắn có tài vẽ thuộc loại kha khá, có tranh trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, và cũng đôi ba lần cũng được Hội Mỹ thuật Việt Nam tặng giải thưởng.
Trước kia hắn theo học hội họa Khóa Kháng chiến ở Đại Từ, Thái Nguyên cùng với Lê Huy Hòa, Trần Lưu Hậu, Trọng Kiệm, Mai Long. Nói tới đây hẳn bạn đọc cũng đoán được hắn là ai rồi. Hắn chính là Lưu Công Nhân.
Hồi năm nào tôi nhớ không rõ nhưng chỉ biết lúc ấy hắn và vợ hắn đã sinh được một cậu con trai. Đầu năm học hắn có nhờ tôi mua một bộ sách giáo khoa cho đứa con theo học ở trường tiểu học (vì tôi ở trong ngành giáo dục nên việc tìm kiếm sách cũng dễ). Nhận được sách rồi mà mãi chưa thấy hắn trả tiền cho tôi. Chắc hắn quên tiệt mất hay hắn coi như vớ được của rơi nhỉ?!

LƯU CÔNG NHÂN – Đào Dã, Phú Thọ. Màu nước

Cũng có lần, hắn có mời tôi đến nhà chơi. Căn nhà một tầng trông như một sân khấu vừa mới diễn vở xong.
Lúc ấy, trên tường treo một bức tranh sơn dầu rộng bằng nửa chiếc chiếu con, vẽ hình chiếc xe “cuốc”, loại dùng cho các cua-rơ đi thi xe đạp. Tôi trông chẳng nghệ thuật một tí nào. Ngoài ra, còn có một bức tranh nhỏ cỡ bằng chiếc cặp da vẽ một chiếc lọ đề hai chữ “Đại Phong”. Tôi nghĩ bụng “thằng cha này lại cũng hóm nhỉ, học mót kiểu Trạng Quỳnh” cơ đấy. Hắn đem câu chuyện trên để vẽ đề tài cho bức tranh, cũng kể coi như là độc đáo.
Có lần, hắn khoe với tôi bán được bức tranh cho Bảo tàng Mỹ thuật được hai nghìn đồng, tính tương đương với giá 10 cân thịt heo và chưa được 10 đô-la theo giá chợ đen thời điểm 1985. Số tiền đó hắn hào phóng đưa cho vợ một nghìn bảy trăm đồng, còn ba trăm đồng hắn giữ khao bạn bè bia bọt.
Có lần, vào sáng ngày mồng 3 Tết, hắn lò dò đến nhà tôi, trên người mặc chiếc áo len cổ hình trái tim màu lông chuột, chiếc quần ka-ki màu cứt ngựa, chân đi đôi giày ba-ta đã mòn gót. Theo phép lịch sự tôi bày mứt kẹo, rót rượu ra mời hai bên nâng cốc cùng nhau chúc tụng ngày Xuân vui vẻ hoan hỉ lắm. Lúc ra về, hắn rỉ tai tôi bảo mượn nóng ba mươi đồng. Tôi nghe thật ngại quá vì biết tính anh chàng nhiều lần vay mà hình như hay quên, không mấy khi trả nợ. Tôi từ chối bảo “đào đâu ra tiền bây giờ”. Lúc ấy, thực ra nhà tôi tuy không dư dả nhiều nhưng trong tủ lúc nào cũng có bạc trăm.
Hắn nói: “Ông ky bo bỏ mẹ, giàu có thế, nhiều tiền cổ Nhật, Việt Nam, báo chí đều ca ngợi là người có điều kiện mà ông lại kêu là không có, ông nói thế ch… nó cũng chẳng nghe được”. Thế rồi hắn vùng vằng ra về. Tôi cố gọi hắn quay lại để xoa dịu nhưng hắn bước thẳng, không thèm quay lại… Ồ, cũng là người có khí chất đấy.
Vài tháng sau, tôi gặp hắn ở cửa hàng Cà phê Lâm, hắn gọi tôi và gọi thêm một cốc cà phê mời tôi uống. Tính hắn phổi bò, chuyện đâu bỏ đấy, chẳng thích giận ai, chẳng để bụng chuyện gì. Hắn hồ hởi báo cho tôi biết hắn sắp triển lãm tranh và mời tôi tới dự. Cuộc triển lãm thành công, cũng bán được dăm mười bức. Sau cuộc triển lãm, có tiền rồi, hắn dự định sẽ du ngoạn đó đây.
Được ít lâu sau, tôi nghe được tin buồn, hắn đã ra đi ở tuổi 77.
Bây giờ, hắn đã trở thành người thiên cổ từ bao giờ rồi, không biết ở dưới âm phủ hắn có nhớ đến “lão ky bo” đáng ghét ở trên trần gian này không?

Nguyễn Bá Đạm